logo

BÌNH BÀI THƠ “PHỈ THÚY” CỦA NGUYỄN NGỌC HƯNG

Thơ Nguyễn Ngọc Hưng được viết trên giường bệnh nhưng hơn 30 năm qua, thơ anh được người đọc đón nhận với tất cả sự trân trọng mến yêu. Vì người đọc bắt gặp từ trang thơ của anh một trái tim tỏa sáng tình yêu đời, yêu người vô hạn và một khát khao hướng về cái đẹp, cái cao cả. “Phỉ thúy” (In trong Tạp chí Thơ số 9 năm 2015) là một bài thơ hay thể hiện rất rõ nét về điều này.

Bài thơ được mở ra bằng một gam màu “Xanh, xanh lắm”. Hai từ “xanh” đi liền nhau lại kết hợp với từ mức độ “lắm” nữa thì… tột cùng xanh! Mới bước vào ngưỡng cửa của bài thơ mà người đọc đã bị mê hoặc bởi một màu xanh rờn rờn sức sống. Màu xanh này có được từ đâu? Hãy tiếp tục với dòng cảm xúc của nhà thơ: “Tiếng gì reo văn vắt”. “Tiếng gì”, mơ hồ thật đấy nhưng rất rõ ràng ở thẩm âm “văn vắt”. “Văn vắt” thường kết hợp với “trong” (trong văn vắt). Còn nhớ khi miêu tả độ trong của tiếng đàn Thúy Kiều, thi hào Nguyễn Du có viết “Trong như tiếng hạc bay qua” và Bác Hồ khi miêu tả độ trong của tiếng suối “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. Các bậc thi nhân tiền bối đã miêu tả âm thanh bằng âm thanh trong sự tương quan so sánh. Không giống họ, Nguyễn Ngọc Hưng trực tiếp dùng tính từ tuyệt đối “văn vắt” để diễn tả cái tuyệt đỉnh trong của “tiếng gì”. Trong mơ hồ, cái ‘tiếng gì” đó nghe “như lạ như quen” đã “nhuộm biếc lá vườn/ Nhuộm biếc cỏ vương sương/ Và nhuộm biếc/ Cả trời/ Cả gió/ Cả làn hương…”. Không biết là “tiếng gì” mà có khả năng “nhuộm biếc” cả một không gian rộng lớn. Từ thiên nhiên bình dị, gần gũi “lá vườn”, “cỏ vương sương” đến vũ trụ “trời”,”gió”; từ những cái hữu hình như “lá”,”cỏ”,”trời” đến những cái vô hình như “gió”, “làn hương” đều được “nhuộm biếc” bởi “tiếng gì” kia. Thật là kỳ diệu! Và nhà thơ đã giải thích điều kỳ diệu này:

“Không phải ngọc
Không phải chim
Không phải vườn
Chỉ là tiếng ngọc tiếng chim tiếng vườn
Cộng hưởng nhau kết tinh thành phỉ thúy”

Vậy là theo cảm quan của nhà thơ, phỉ thúy là “cộng hưởng” tất cả các thứ tiếng của thiên nhiên: “tiếng ngọc tiếng chim tiếng vườn”, là “kết tinh” những gì trong trẻo nhất, thanh khiết nhất của thiên nhiên. Bản thân mỗi tiếng thiên nhiên đã trong trẻo, thanh khiết lắm rồi mà phỉ thúy lại “cộng hưởng”,”kết tinh” tất cả các thứ tiếng ấy lại thì… phỉ thúy, tuyệt đỉnh của sự thanh trong! Không những thế , phỉ thúy còn có sức mạnh:
Xao động ngân rung vô chung vô thủy
Mà thủy chung đến tận cõi không màu
“Vô chung vô thủy/ Mà thủy chung đến tận cõi không màu”, lời lý giải nghe có phần nghịch lý nhưng lại thuận lý đối với trái tim nhà thơ. “Cõi không màu” có phải là cõi tâm linh? Câu thơ gợi nhớ đến lời nhận xét về ngọc phỉ thúy: “Màu của phỉ thúy làm cho người ngắm nhìn phát sinh tư tưởng tâm linh”.

Đến đây người đọc có thể hiểu “Tiếng gì reo văn vắt” nói ở trên có phải là tiếng phỉ thúy? Màu “xanh, xanh lắm” nói ở trên có phải là màu của phỉ thúy? Có “xanh” như thế thì phỉ thúy mới có khả năng “nhuộm biếc” cả không gian vũ trụ được. Xanh trong, quý hiếm, linh thiêng là đặc trưng của ngọc phỉ thúy. Không giống người khác chiêm ngưỡng phỉ thúy bằng mắt, Nguyễn Ngọc Hưng chiêm ngưỡng phỉ thúy bằng tai: “Tiếng gì reo văn vắt” “tiếng ngọc tiếng chim tiếng vườn” “kết tinh thành phỉ thúy”. Có phải với nhà thơ, “tiếng” mới có sức “xao động ngân rung” đến “cõi không màu”. “Tiếng” mới có sức vang vọng xuyên thời gian, không gian đến tận muôn đời. Do vậy, “Tiếng” không mang ý niệm về vật chất mà có ý nghĩa về tinh thần. Chiêm ngưỡng phỉ thúy bằng thính giác phải chăng nhà thơ chỉ muốn hướng tới những giá trị tinh thần cao quý, thiêng liêng? Và tình yêu chẳng phải là cái giá trị cao quý, đẹp đẽ mà nhà thơ đang hướng tới đó sao:

“Không thể trả về trước
Không thể trả về sau
Đôi mắt ấy
Trái tim ấy
Đành trăm năm mắc nợ”

Nói đến “trả” chắc chắn trước đó phải có “nợ”. Mắc món nợ gì mà “về trước” (kiếp trước) đến cả “về sau” (kiếp sau) cũng “Không thể trả”? Có phải câu trả lời là đây: “Đôi mát ấy/ Trái tim ấy/ Đành trăm năm mắc nợ”. Chỉ dựa vào hai chi tiết tiêu biểu cho cái thần, cái hồn của con người là “đôi mắt” và “trái tim”, người đọc có thể hiểu món nợ truyền kiếp “không thể trả” được là món nợ tình. Phải, chỉ có nợ tình mới khiến con người đeo mang đến đời đời kiếp kiếp. “Về trước” đã không thể trả “về sau” cũng không nên “Đành trăm năm mắc nợ”. Câu thơ trĩu nặng buông chùng xuống với từ “đành” nghe như lời phán truyền của định mệnh.

Kết thúc bài thơ là câu hỏi:

“Làm sao thoát ra ngoài nỗi nhớ
Khi đáy lòng luôn vọng tiếng xanh xưa?”

Vậy đấy, khi món nợ tình”không thể trả” được thì nhất định nó phải biến thành “nỗi nhớ”. Nói như nhà thơ Bùi Nguyễn Trường Kiên “Em đi rồi nỗi nhớ bỗng xa xăm/ Nỗi nhớ chợt hóa thành cơn bão/ Nỗi nhớ cứ cồn cào ngày xưa chim sáo/ Nỗi nhớ ơi! Nhớ suốt những canh dài”. Nhớ người yêu lúc người ấy “đi rôi” là thế: mãnh liệt, cồn cào, da diết, thẳm sâu, dai dẳng. Nguyễn Ngọc Hưng cũng thế, nỗi nhớ ấy cứ đeo đẳng anh như món nợ tình đeo mang đời kiếp nên “Làm sao thoát” được “Khi đáy lòng luôn vọng tiếng xanh xưa?”. “Tiếng xanh xưa” có phải là tiếng phỉ thúy? Đó là thứ âm thanh kỳ diệu không chỉ “nhuộm biếc” không gian vũ trụ, mà còn “nhuộm biếc” cả hồn thơ. Vậy ra “tiếng phỉ thúy” còn là tiếng tình yêu cao đẹp thanh khiết đầy đam mê mà nhà thơ đã chôn chặt tận “đáy lòng”, tận nơi sâu thẳm của lòng mình. Tình yêu ấy cứ mãi lung linh trong “nỗi nhớ” vô cùng.

Dưới sự “điều khiển” của ngòi bút tài hoa Nguyễn Ngọc Hưng, hình tượng thơ “phỉ thúy” chuyển động trong bài thơ luôn gây hứng thú cho người đọc. Ở đầu bài thơ, tác giả không trực tiếp gọi tên đối tượng mà úp mở với “tiếng gì” để rồi lần lượt “giải mã” nó bằng không gian xanh do “tiếng gì” ‘nhuộm biếc” với lời lý giải bất ngờ “tiếng ngọc tiếng chim tiếng vườn” “kết tinh thành phỉ thúy”. Bất ngờ hơn nữa tiếng phỉ thúy đã trở thành tiếng tâm linh thiêng liêng, tiếng tình yêu cao đẹp vọng suốt “trăm năm” của một kiếp người.

Kết cấu bài thơ theo kiểu đầu cuối tương ứng cũng là một đặc sắc nghệ thuật nữa của “Phỉ thúy”. Mở đầu bài thơ là tiếng phỉ thúy “Tiếng gì reo văn vắt”, kết thúc bài thơ cũng bằng tiếng phỉ thúy “tiếng xanh xưa”. Với kết cấu này, có phải nhà thơ muốn làm nổi bật hình tượng “phỉ thúy” với ý nghĩa: Những giá trị tinh thần cao quý thiêng liêng luôn bất biến, xuyên suốt thời gian, không gian, dù trải qua mấy dâu bể lở bồi nó luôn còn vang vọng mãi. Vậy nên hãy vọng hướng về phỉ thúy để tâm hồn được “nhuộm biếc”, để được thanh thoát trải lòng với cao rộng chân trời Chân – Thiện – Mỹ.

“Thơ Hưng gụi gần mà không đơn giản” (Mai Bá Ấn). Thật chí lý! Đọc thơ Nguyễn Ngọc Hưng, người đọc dễ dàng nhập vào không gian thơ gần gũi, thân thuộc, bình dị của anh nhưng cũng không ít sâu lắng, suy tư về những bài học triết lý sâu sắc mà nhà thơ đã gửi gắm qua thi phẩm của mình. “Phỉ thúy” là một bài thơ như thế.

Tuy Phước 14/12/2015

BÌNH BÀI THƠ “PHỈ THÚY” CỦA NGUYỄN NGỌC HƯNG – Tuệ Mỹ.

PHỈ THÚY

Xanh, xanh lắm
Tiếng gì reo văn vắt
Như lạ như quen nhuộm biếc lá vườn
Nhuộm biếc cỏ vương sương
Và nhuộm biếc
Cả trời
Cả gió
Cả làn hương…

Không phải ngọc
Không phải chim
Không phải vườn
Chỉ là tiếng ngọc tiếng chim tiếng vườn
Cộng hưởng nhau kết tinh thành phỉ thúy
Xao động ngân rung vô chung vô thủy
Mà thủy chung đến tận cõi không màu.

Không thể trả về trước
Không thể trả về sau
Đôi mắt ấy
Trái tim ấy
Đành trăm năm mắc nợ.

Làm sao thoát ra ngoài nỗi nhớ
Khi đáy lòng luôn vọng tiếng xanh xưa?

(In trong Tạp chí Thơ số 9 năm 2015)

PHỈ THÚY – Nguyễn Ngọc Hưng.

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Ngọc Hưng

Nguyễn Ngọc Hưng. Quê quán: Hành Thịnh, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Thích sống vui vẻ, nhẹ nhàng, làm thơ để chia sẻ vui buồn với mọi người và được mọi người đồng cảm, sẻ chia.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *