logo

CHÂN DUNG KIỀU NỮ QUA BA BÀI THƠ CỦA LỘC VỪNG TỨ QUÝ THĂNG HOA(*) _ Phần 1 (QUY NHƠN MỘT CHIỀU)

Tôi không biết đến khi nào thì tôi mới đọc hết được thơ của Lộc Vừng Tứ Quý Thăng Hoa. Thơ anh rất hay, cái hay thanh thoát gợi ra từ tứ thơ, từ cách thức sử dụng từ ngữ rất mực thuần thục, mà tôi ngỡ từng chữ của anh hệt như có hơi thở và biết cựa mình trăn trở trên trang giấy. Chỉ kể đến số lượng tập thơ của anh đã xuất bản và tên các giải thưởng mà anh đã nhận, đủ để tôi phải “kính nhi viễn chi” rồi…

Để có một cái nhìn tổng quát về thơ của anh thì tôi xin chịu thua, bởi tôi có đọc được bao nhiêu đâu. Nhưng các bài thơ của anh trên diễn đàn daihocquynhon78.com đã lay động thế giới xúc cảm của tôi. Trong phạm vi bài viết nhỏ này, tôi chỉ xin được đề cập đến ba bài thơ của anh:

QUY NHƠN MỘT CHIỀU, TỐ NỮ, PHÙ DUNG…

Ba bài thơ cùng tác giả, cùng đề tài, cùng cảm xúc, cùng một đối tượng trữ tình. Điều đó rất có ý nghĩa, chắc chắn như vậy rồi. Một hình bóng hằn sâu vào tâm thức, trở thành niềm thao thức không nguôi… trong cảm xúc thơ Lộc Vừng Tứ Quý Thăng Hoa. Hình bóng ấy đi về khép mở trên trang thơ, rồi sẽ có cơ hội sống mãi trong lòng độc giả. Bởi vì hình ảnh ấy hiện ra từ hoài vọng, từ niềm thao thức trăn trở trong lòng thi nhân. Và ai biết đâu đấy, còn bao nhiêu thi phẩm sẽ được ra đời sau này nữa…

Đọc ba bài thơ này cuả Lộc Vừng (tôi muốn, và xin được gọi tác giả như thế, vừa ngắn gọn, vừa thân thương), tôi nhận biết ngay rằng mình có trách nhiệm viết đôi lời cảm nhận về mấy bài thơ này. Đó là “trách nhiệm” do chính trái tim mình thôi thúc, chứ không phải từ tác động của yếu tố ngoại cảnh. Vì sao như vậy ? Xin được trả lời ngay rằng gần đây, tôi mới vừa phát hiện ra một mối liên hệ nho nhỏ giữa tôi và thi sĩ (tự hào quá!). Ngoài việc tôi với thi sĩ vốn là bạn học, thì cả anh và tôi cùng có mối liên hệ đến một người, mà cả anh và tôi đều không hề hay biết về mối liên hệ ấy. Cho mãi tới gần đây, lúc tôi đăng tấm hình năm chị em phòng 202B ký túc xá OB ngày ấy (1980-1981) lên trang riêng của mình, Người Xứ Quảng đã cảm hứng viết bài “Ngô Thị Lộc trong tâm tưởng tôi”, và cũng từ đó, chị elegantbtx đã viết những dòng hồi tưởng thực xúc động… Rồi tôi đọc được mấy bài thơ này cùng những lời đầy nước mắt của Lộc Vừng, nước mắt của thi nhân!

Người được khắc họa trong thế giới nghệ thuật của mấy bài thơ này đã từng có thời gian gắn bó với chính tôi, mà người ấy hiện đã từ giã cõi đời. Một lời giục giã thiết tha của tình bạn, vừa là của người đang sống đối với người đã ra đi về cõi vĩnh hằng… Dẫu rằng, biết ai, người đã ra đi hay người còn đang sống, ai hạnh phúc hơn ai?

QUY NHƠN MỘT CHIỀU

Quy Nhơn không quyến rũ người
Chỉ là tôi nhớ nụ cười liêu trai
Nhớ làn tóc xõa ngang vai
Nhớ tà áo lụa bóng ai đi về…

Người không biển hẹn non thề
Đá xanh Gành Ráng vẫn kề suối Tiên
Mộng Cầm dốc nắng chiều nghiêng
Mộ Hàn Mặc Tử vẫn yên lặng chờ

Chơi trăng trăng vỡ không ngờ
Chơi thơ thơ vỡ hồn thơ máu trào
Ngẫm đời như giấc chiêm bao
Luyến chi mà chẳng tan vào tịch nhiên?

Con sóng dữ con sóng hiền
Mùa thu em vẫn hồn nhiên đến trường
Lặng thầm như một cành dương
Có tôi đứng đợi góc đường Quang Trung

Xanh xanh xanh đến vô cùng
Chưa xa đã nhớ lạ lùng biển ơi
Quy Nhơn không quyến rũ người
Chỉ là tôi lỡ bén hơi một chiều…

Tôi sẽ bắt đầu từ “QUY NHƠN MỘT CHIỀU”. Và tôi muốn được bày tỏ niềm đồng cảm với tác giả ngay từ câu thơ đầu tiên:
“Quy Nhơn không quyến rũ người”

Có lẽ tác giả bài thơ có lý do riêng của mình, còn tôi, tôi có mối so sánh Quy Nhơn với thành phố quê hương tôi. Những gì Quy Nhơn có thì thành phố quê tôi đều có: bến cảng, những bãi tắm chạy dài theo bờ cát, hải sản dồi dào, nhịp sống đô thị… Nhưng Quy Nhơn làm gì có con sông chảy ngang qua giữa lòng thành phố như dòng sông Hàn quê tôi. Quy Nhơn làm gì có núi năm cụm gắn liền với truyền thuyết như Ngũ Hành Sơn, làm gì có những núi đá vôi bị xói mòn thành hang động tự nhiên, làm gì có dải đất vươn ra biển vẫn được gọi là bán đảo Sơn Trà làm nên thế chiến lược quan yếu của thành phố… Phải nói ngay rằng tôi yêu thành phố quê hương tôi nhiều hơn Quy Nhơn nhiều lắm…

Thế nhưng đối với tác giả bài thơ, đối với cá nhân tôi và với rất nhiều bạn bè sinh viên Đại học Sư phạm ngày ấy, nhắc đến Quy Nhơn là nhắc đến một vùng trời kỷ niệm. Niềm đồng cảm giữa tôi với thi sĩ Lộc Vừng, và có lẽ với rất nhiều người khác nữa, là ở điểm: nhắc đến Quy Nhơn là đồng nghĩa với động chạm tới nỗi niềm sâu kín, thiết tha và khắc khoải trong tâm hồn mỗi chúng tôi. Mỗi người đều có lý do riêng để mà yêu mà nhớ, để bùi ngùi hoài cảm… Và vì thế, địa danh “Quy Nhơn” từ đó trở nên mang ý nghĩa thiêng liêng và thân thiết…

Vì “Quy Nhơn không quyến rũ người”, cho nên, trầm tích lắng đọng trong tim thi sĩ gắn với địa danh này chắc hẳn phải là điều đặc biệt lắm. Một bóng hình là quá đủ cho một niềm thổn thức …
Tiếp tục đọc bài thơ, tôi nhận ra mối liên quan đó:

“Chỉ là tôi nhớ nụ cười liêu trai
Nhớ làn tóc xõa ngang vai
Nhớ tà áo lụa bóng ai đi về…”

Tôi nói rằng qua mấy câu thơ này, Lộc Vừng đã vẽ nên một bức chân dung truyền thần. Đúng thế ! Tôi khâm phục thi nhân ở điểm đã nắm bắt được cái “thần” của đối tượng, để rồi sử dụng ngôn từ xây dựng một hình tượng nghệ thuật rất sống động trong thơ. Trước hết, tôi muốn nói đến từ ngữ: “liêu trai”. Từ ngữ này gợi nhớ đến tác phẩm văn chương bất hủ: “Liêu Trai chí dị” của Bồ Tùng Linh trong nền văn học Trung Quốc. Ở Việt Nam trước đây, nhiều nhà bình luận nghệ thuật đã sử dụng từ “liêu trai” để nói về một giọng ca từng mấy thập niên liền chiếm được niềm mến mộ của thính giả, ca sĩ Thanh Thúy. Lộc Vừng thi sĩ đã dùng khái niệm này để nói tới đối tượng trữ tình trong bài thơ của mình. Và tôi nói rằng từ ngữ đó quả thực đã được sử dụng hết sức đắc địa! Không thể có từ ngữ nào chính xác hơn dể diễn tả sự quyến rũ như là có ma lực.

Điều chính yếu làm nên vẻ “liêu trai” ấy ở Lộc, trước hết là nụ cười. Ai đã từng biết đến nụ cười nàng Mona Lisa trong bức danh họa “La Gioconda” của Leonardo da Vinci thì hẳn hình dung được nụ cười của Ngô Thị Lộc.

Tôi nói không ngoa đâu! Chính tôi, ngày mới ở chung với Lộc, mỗi khi được khen trong cuộc họp Khoa hay trên lớp, về phòng, nhìn nụ cười của Lộc, tôi vẫn nghĩ là Lộc giễu cợt mình. Nhưng “thức khuya mới biết đêm dài”. Dần dà, tôi biết rằng cảm nhận của mình là không đúng. Lộc yêu mến tôi và trân trọng tôi hơn là tôi cảm nhận lúc ban đầu.

Đôi lần, tôi viết dở dang một bài thơ nào đó rồi bỏ quên trên bàn học, Lộc đọc lên, vừa đọc vừa cười, tôi… xấu hổ khi cho rằng Lộc chọc quê mình. Nhưng rồi, những lúc ba chị em (hai đứa với chị Sang) cùng đi chơi, nghe Lộc đọc nghiêm túc những vần thơ ấy của mình, tôi thấy thương Lộc chi lạ. Cái nụ cười đặc biệt kèm theo câu nói thường khiến cho Lộc trở nên “bí hiểm”, đúng thực là nụ cười Mona Lisa. Phải chăng đây là điều chính yếu khiến cho các chàng trai có tình cảm với Lộc đã không dám ngỏ lời, thậm chí không dám đến gần?

Lộc Vừng đã cảm nhận hết sức chính xác và anh đã cực tả được cái “thần” trong nụ cười ấy. Vẻ “liêu trai” trong phong cách Lộc không chỉ ở nụ cười, mà còn ở dáng vẻ mỏng manh sương khói, vừa thướt tha yểu điệu lại vừa huyền hồ như thực như hư… Không biết điều gì khiến tôi liên tưởng đến Đạm Tiên trong giấc mộng bên song cửa của Thúy Kiều:

“Thoắt đâu thấy một tiểu kiều
Có chiều phong vận, có chiều thanh tân”

Khổ thơ mở đầu, trừ câu thứ nhất, còn lại là phác họa vẻ đẹp ngoại hình của thiếu nữ: nụ cười liêu trai, làn tóc xõa, tà áo lụa. Lộc Vừng ơi, anh thực là tinh tế (hẳn nhiên rồi, không tinh tế làm sao thành nhà thơ được nhỉ !) “Nụ cười liêu trai” là một phát hiện độc đáo; “làn tóc xõa ngang vai” thì biểu lộ rõ rệt bên ngoài, ai mà chẳng thấy; còn “tà áo lụa” thể hiện một sự quan sát khá tường tận của người-bạn-trai-chung-học này. Gia đình Lộc khá giả. Cuộc sống nội trú của Lộc không khó khăn, chật vật, thiếu thốn về vật chất như hầu hết sinh viên ngày ấy. Tà áo lụa thời ấy là một món quý giá. Mà Lộc lại thường khoác những chiếc áo lụa tôn lên dáng vẻ thướt tha yêu kiều của thân hình người thiếu nữ.

Bức chân dung ấy chỉ cần khổ thơ thứ nhất đã quá rõ ràng và cụ thể. Từ khổ thơ thứ hai, tác giả biểu lộ cảm xúc ngậm ngùi về số phận của nhân vật trữ tình. Lộc Vừng đã liên tưởng đến Hàn Mặc Tử qua những lời thơ da diết:

“Người không biển hẹn non thề
Đá xanh Gành Ráng vẫn kề suối Tiên
Mộng Cầm dốc nắng chiều nghiêng
Mộ Hàn Mặc Tử vẫn yên lặng chờ”

Tác giả rất có lý: có nhiều mối liên tưởng dần được hình thành. Cũng như Hàn Mặc Tử, người trong thơ sống cuộc sống trên đời rất ngắn ngủi. Các địa danh: Gành Ráng, Mộng Cầm dốc, mộ Hàn Mặc Tử… gợi ra một không gian thơ. Đó là không gian gợi nhắc tới trường Đại học Sư phạm Qui Nhơn gần đó, nhắc nhở đến tài thơ thi sĩ Hàn, gợi nhắc một số phận nghiệt ngã, ngắn ngủi kiếp người.

Nhưng không chỉ có thế, không gian mở ra trong thế giới nghệ thuật của khổ thơ là không gian trữ tình, gợi cảm. Đó là không gian du lịch, không gian hẹn hò của tình yêu. Đọc khổ thơ, người đọc không chỉ ngậm ngùi cho một số phận, mà còn hình dung ra niềm ao ước thầm kín của người làm thơ. Dường như thi sĩ đang mộng mơ về một cuộc hẹn hò với thiếu nữ. Câu thơ mở đầu khổ thơ gợi ra rất rõ điều đó:

“Người không biển hẹn non thề”

Cuộc hẹn hò ấy đã không kịp trở thành hiện thực. Cuộc hẹn hò vĩnh viễn chìm trong sương khói của dĩ vãng, mãi mãi chỉ nằm trong mộng ước, trong giấc mơ mà thôi !

Trường liên tưởng của tác giả không dừng lại mà như lắng sâu vào thế giới thơ Hàn Mặc Tử để vừa hoài tưởng hình bóng xưa, vừa thể hiện niềm luyến tiếc xót xa cho chính mình:

“Chơi trăng trăng vỡ không ngờ
Chơi thơ thơ vỡ hồn thơ máu trào
Ngẫm đời như giấc chiêm bao
Luyến chi mà chẳng tan vào tịch nhiên?”

Khổ thơ này nếu đứng riêng rẽ, người đọc rất dễ dàng khẳng định tứ thơ nói về thế giới hình tượng và cảm xúc trong thơ Hàn với “trăng vỡ”, với “hồn thơ máu trào”; nói đến số phận Hàn mong manh ngắn ngủi: “giấc chiêm bao”, “tan vào tịch nhiên”, ra đi khi tuổi đời hãy còn quá trẻ… Rõ ràng, tác giả đã ngầm so sánh số phận người thiếu nữ trong thơ mình với thi sĩ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới. Đó vừa là nỗi xót xa vô cùng vô tận, đồng thời cũng ngầm bày tỏ niềm yêu, sự ngưỡng mộ tới đối tượng nghệ thuật của mình. Xưa nay, nhắc tới Hàn Mặc Tử, ai chẳng ngậm ngùi tiếc thương xen lẫn với niềm thán phục, tự hào!

Hai khổ thơ còn lại, tác giả không còn ngăn được ước mộng của lòng mình. Hai nhân vật, chủ thể và khách thể đã sóng đôi cùng nhau trong từng khổ thơ, dù bây giờ đã âm dương cách trở đôi đường! Tác giả đã quay về với không gian và thời gian hoài niệm để hình dung những cuộc hẹn hò nên thơ trữ tình, rất đẹp mà cũng rất đỗi đời thường như đã từng diễn ra với biết bao đôi lứa trên đời:

“Con sóng dữ con sóng hiền
Mùa thu em vẫn hồn nhiên đến trường
Lặng thầm như một cành dương
Có tôi đứng đợi góc đường Quang Trung”

Nhắc tới Qui Nhơn, nhắc tới Gành Ráng, hình ảnh con sóng hiện ra, đi vào thơ, trường liên tưởng hết sức tự nhiên và hợp lý. Nhưng dễ nhận thấy rằng hình ảnh “con sóng” đã trở thành ẩn dụ nghệ thuật gắn với phép điệp và đi liền với các tính từ “dữ”, “hiền” như một nỗi xót xa và oán trách số phận. Riêng người có nụ cười liêu trai thì cần chi biết đến cái kết cục xa hay gần. Nàng thục nữ “vẫn hồn nhiên đến trường”, vẫn “lặng thầm” đã thành cá tính. Tuy thế, kiều nữ không hề đơn độc. Thi nhân đã dệt nên trong mộng tưởng một thời quá khứ đáng yêu tựa như để viết nốt bản tình ca dang dở của đời mình:

“Có tôi đứng đợi góc đường Quang Trung”

Hiện lên trong cả khổ thơ thứ tư vừa nêu là một nét cá tính của nhân vật: hồn nhiên, trầm lắng. Đó là nét tính cách còn hằn dấu vết trong tâm tưởng thi nhân và được chọn lọc tự nhiên bởi ký ức.

Khổ thơ cuối cùng lắng đọng hoài cảm và nỗi tiếc nhớ khôn nguôi:

“Xanh xanh xanh đến vô cùng
Chưa xa đã nhớ lạ lùng biển ơi
Quy Nhơn không quyến rũ người
Chỉ là tôi lỡ bén hơi một chiều…”

Ngàn xưa và ngàn sau, màu xanh nơi biển cả có bao giờ thay đổi, phép láy từ “xanh xanh xanh” ngoài ý nghĩa nhấn mạnh cái “màu xanh vô cùng” ấy như còn muốn diễn tả nỗi niềm tha thiết không thể, không bao giờ nguôi trong lòng người. Nỗi nhớ ấy đã hình thành ngay từ lúc “chưa xa”:

“Chưa xa đã nhớ lạ lùng biển ơi”

Theo dòng chảy thời gian, nỗi nhớ ấy không hề phai nhạt mà như càng lắng sâu, càng đầy vơi trong dòng cảm xúc trữ tình của thi sĩ.

Phải, ”Quy Nhơn không quyến rũ người”, tứ thơ khép lại, trở về với cảm xúc ban đầu để khẳng định mạnh mẽ lý do khiến cho Quy Nhơn trở thành có ý nghĩa với mình, đó là:

“Chỉ là tôi lỡ bén hơi một chiều…”

Câu chuyện tình yêu xa vắng mà chẳng kém phần đậm sâu được gợi lên trong bài thơ khiến liên tưởng đến hai câu thơ nổi tiếng của thi sĩ Pháp Arver:

“Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thu”
(Bản dịch của Khái Hưng)

Bài thơ thứ hai có nhan đề “Tố nữ”, tác giả chú thích: Chút hoài cảm về Ngô Lộc.
(Còn tiếp phần 2)

___________
(*) LỘC VỪNG TỨ QUÝ THĂNG HOA là nick name của Nguyễn Ngọc Hưng.

Đà Nẵng, đêm 27, sáng 28/9/2013

CHÂN DUNG KIỀU NỮ QUA BA BÀI THƠ CỦA LỘC VỪNG TỨ QUÝ THĂNG HOA(*) _ Phần 1 (QUY NHƠN MỘT CHIỀU) – Ngô Thị Bích Tuyên.

QUY NHƠN MỘT CHIỀU

Quy Nhơn không quyến rũ người
Chỉ là tôi nhớ nụ cười liêu trai
Nhớ làn tóc xõa ngang vai
Nhớ tà áo lụa bóng ai đi về…

Người không biển hẹn non thề
Đá xanh Gành Ráng vẫn kề suối Tiên
Mộng Cầm dốc nắng chiều nghiêng
Mộ Hàn Mặc Tử vẫn yên lặng chờ.

Chơi trăng trăng vỡ không ngờ
Chơi thơ thơ vỡ hồn thơ máu trào
Ngẫm đời như giấc chiêm bao
Luyến chi mà chẳng tan vào tịch nhiên?

Con sóng dữ con sóng hiền
Mùa thu em vẫn hồn nhiên đến trường
Lặng thầm như một cành dương
Có tôi đứng đợi góc đường Quang Trung.

Xanh xanh xanh đến vô cùng
Chưa xa đã nhớ lạ lùng biển ơi
Quy Nhơn không quyến rũ người
Chỉ là tôi lỡ bén hơi một chiều…

QUY NHƠN MỘT CHIỀU – Nguyễn Ngọc Hưng.

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Ngọc Hưng

Nguyễn Ngọc Hưng. Quê quán: Hành Thịnh, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Thích sống vui vẻ, nhẹ nhàng, làm thơ để chia sẻ vui buồn với mọi người và được mọi người đồng cảm, sẻ chia.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *