logo

CHÂN DUNG KIỀU NỮ QUA BA BÀI THƠ CỦA LỘC VỪNG TỨ QUÝ THĂNG HOA(*) _ Phần 3 (PHÙ DUNG)

Bài thơ thứ ba trong chùm thơ cùng đề tài này là: “Phù dung”. Bài thơ được cấu tứ dựa trên trường liên tưởng giữa hai hình ảnh hoa và người, như chính tác giả tâm sự: “Tự muôn đời người nữ được ví như hoa. Lộc trong mắt tôi, trong cảm nhận của riêng tôi – và tôi tin đó cũng là cảm nhận của nhiều người – Lộc là một đóa phù dung! Xin được chia sẻ cùng các bạn.”

Hoa, đó là vẻ đẹp của đời sống, mà hoa phù dung thì sớm nở tối tàn, kiếp hoa ngắn ngủi đã thành hình ảnh ước lệ trong văn chương.

Khổ thứ nhất của bài ngũ ngôn ba khổ bốn câu tả thực diễn biến một vòng đời bông hoa ở lớp nghĩa thứ nhất, và dĩ nhiên, lớp nghĩa thứ hai mới chính là ý đồ nghệ thuật mà tác giả hướng tới, đó là ngụ ý về vẻ đẹp của cuộc đời một kiều nữ, một kiếp người quá ư ngắn ngủi:

“Ban mai trắng tinh khôi
Phơn phớt hồng trưa nắng
Chưa kịp lời dâng tặng
Chiều nghiêng tím rũ rồi”

Khái niệm “hoa” gần như đồng nghĩa với “đẹp”, đã là hoa tất phải đẹp, cho dù đó là hoa vương giả hay hoa đồng nội. Mà hoa phù dung thì nổi tiếng rất đẹp. Tác giả vừa tả vừa kể diễn biến một vòng khép kín của đời hoa từ lúc nở đến lúc tàn. Màu sắc là phương tiện chủ yếu để tác giả triển khai cảm hứng nghệ thuật của mình: “trắng”, mà “trắng tinh khôi”, chuyển sang “phơn phớt hồng”, kết thúc với “tím”, mà được gắn với định ngữ là một động từ để thành “tím rũ”. Gắn với từng màu sắc, như để diễn tả một trạng thái tồn tại của bông hoa là những danh từ chỉ thời gian: “ban mai”, “trưa nắng”, “chiều”. Một vòng tròn khép kín của đời hoa chỉ trong vòng diễn biến của một chu kỳ mặt trời mọc đến mặt trời lặn. Từ ngữ chỉ màu sắc đã được chọn lọc để tự nó gợi lên vẻ đẹp: “trắng tinh khôi”, “phơn phớt hồng”, “tím”. Chữ “nghiêng” ở câu cuối khổ thơ có thể hiểu theo cả hai cách: “chiều nghiêng”, nghĩa là chỉ mới xế nửa buổi chiều, chưa đến lúc chiều tàn, chưa hết một ngày. Cách hiểu thứ hai là “bông hoa nghiêng” để tương ứng với hoạt động “rũ”, nghĩa là thời điểm kết thúc của một sự sống, một vẻ đẹp. Trong ngữ cảnh đoạn thơ, cả hai cách hiểu đều phù hợp và cùng góp phần làm nên cảm xúc thơ. Để nhấn mạnh thêm về sự phôi pha quá sức chóng vánh của một vẻ đẹp, câu thơ thứ ba hiện ra cảm xúc trữ tình, cái “tôi” của người làm thơ:

“Chưa kịp lời dâng tặng”

Biết hoa đẹp, cảm hứng thẩm mỹ dâng tràn, muốn cất lời tán thưởng khen tặng nhưng nào có kịp… Ôi sao tạo hóa nghiệt ngã đến thế ! Có cái lý nào bên trong hiện tượng hay không, điều đó có lẽ người phàm trên cõi dương thế không đủ năng lực để biết được.Khổ thơ thứ hai tiếp tục triển khai dòng cảm xúc trên, nhưng cái tôi trữ tình của thi nhân có cơ hội bộc lộ rõ hơn:

“Nụ cười vui chưa trọn
Hoa đã mãn đời hoa
Nhìn sắc hương tan tác
Ai chẳng thầm xuýt xoa…”

Cảm xúc trữ tình được biểu lộ trực tiếp qua hai từ láy: “tan tác”, bày tỏ thái độ và tâm trạng về sự vật – hoa, mà cũng chính là Người; từ láy thứ hai “xuýt xoa” là tâm trạng của chủ thể trữ tình, tâm trạng tiếc nuối.

Đến khổ thơ thứ ba thì cảm xúc trữ tình đã dâng tràn như ngọn sóng. Trước hết là thương hoa tiếc ngọc. Từ nghìn xưa, cái đẹp vẫn luôn được trân trọng, cái đẹp vẫn luôn gieo vào lòng người những mối tình cảm thẩm mỹ bất tận. Và chính nhờ đó mà mới có nghệ thuật, mới có văn chương… Chẳng phải rằng nghệ thuật nảy sinh từ cái đẹp và niềm xúc cảm về cái đẹp đó sao ?

“Trời cho thơm cho đẹp
Sao sớm nở tối tàn
Thương người như hoa mỏng
Chưa kịp tình đã tan!”

Thương Người đã đành, đằng sau niềm thương đó chính là nỗi thương mình, tiếc cho số phận của hoa, cũng chính là xót xa cho duyên phận của chính mình.

Bản thân cái đẹp đã khơi gợi nguồn thi cảm, niềm tiếc nuối cái đẹp lại làm cho nguồn thi cảm trở nên giàu sắc thái, giàu cung bậc và làm nên sức sống của nghệ thuật. Người con gái trẻ đẹp tài hoa sống vào đầu đời Minh bên Trung Quốc chết khi tuổi mười tám, đến ngót ba trăm năm sau còn làm nên niềm thổn thức của đại thi hào nước Việt Nguyễn Du để bài thơ trác tuyệt “Độc Tiểu Thanh ký” còn sống mãi với bao thế hệ người đọc. Nàng Trương Quỳnh Như chết lúc xuân xanh, chưa từng biết đến hạnh phúc làm vợ đã trở thành hình tượng nghệ thuật tuyệt vời trong bài Văn tế của Phạm Thái. Và người yêu thơ chắc còn nhớ giai thoại tô đậm tài năng “Lưỡng Quốc Trạng nguyên” Mạc Đĩnh Chi về bài văn tế bất hủ, tế môt vị Công chúa bên Tàu khi ông đi sứ:

“Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!”

Bản dịch nghĩa:

Trên trời xanh có một áng mây
Ở lò hồng có một nụ tuyết
Trong vườn ngự có một bông hoa
Trên mặt hồ có một mảnh trăng
Than ôi! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!

Giai nhân được khắc họa trong Văn tế như một áng mây, một nụ tuyết, một bông hoa, một mảnh trăng, tiếc thay vẻ đẹp ấy đã không còn trên cõi đời! Bài điếu văn độc đáo trên đã làm cho vua Nguyên rất cảm kích xúc động, ngộ ra cái lẽ vô thường của Đạo Phật, mọi sự không thể “vạn tuế, vạn vạn tuế” như lời chúc tụng của muôn dân, mà phải tuân theo cái nghịch lý khắc nghiệt biến hoại vô thường không trừ một ai. Hiểu được cái lẽ vô sinh bất diệt đó, con người sẽ trở nên hướng thiện, biết trân quý từng giây phút để sống có ích cho cuộc đời này mà không so đo lời lỗ thiệt hơn, như con ong hút mật rất nhẹ nhàng có ý thức, không làm đau bông hoa, vô tư miệt mài dâng cho đời mật ngọt. Đồng thời, chúng ta phải chấp nhận một sự thật đó là cái quy luật khắt khe của tạo hoá:

“Ô hô ! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!”

Để rồi chúng ta dễ dàng sống vui vẻ thảnh thơi rộng lượng hơn và khi vô thường gọi sẵn sàng buông bỏ mọi chữ “Nhất” cho dòng nước lũ cuốn trôi về biển Đông.Cuộc sống vẫn tiếp diễn, cái cũ đã qua đi, nhưng những câu chuyện cũ thì vẫn còn mãi trong lòng người đời sau nhắc nhở.

Lộc Vừng ơi! Những bài thơ của anh đã lưu giữ vẻ đẹp của một kiều nữ, hay tố nữ, theo cách gọi của anh. Hãy tin những thi phẩm mà anh sáng tạo nên sẽ giúp cho hình tượng nghệ thuật đi vào lòng người, và nhờ đó, sống lâu hơn, dài hơn thực tế mà tạo hóa đã ban tặng cho người bạn gái yêu kiều của chúng ta.

Và, để đồng cảm cùng chia sẻ với anh, tôi xin được dâng lên người bạn gái cùng họ với tôi một nén hương lòng tuy muộn màng nhưng rất mực chân thành:

“Thiên thu còn đó niềm thương nhớ
Vĩnh viễn không nhòa dáng tinh khôi.”

Mà có lẽ, đã là tình yêu thương hướng tới Con Người, dù là người đang hiện hữu hay người đà khuất núi, sẽ chẳng bao giờ là muộn cả, phải không thi nhân?
___________
(*) LỘC VỪNG TỨ QUÝ THĂNG HOA là nick name của Nguyễn Ngọc Hưng.

Đà Nẵng, ngày cơn bão tràn về miền Trung, 30/9/2013

CHÂN DUNG KIỀU NỮ QUA BA BÀI THƠ CỦA LỘC VỪNG TỨ QUÝ THĂNG HOA(*) _ Phần 3 (PHÙ DUNG) – Ngô Thị Bích Tuyên.

PHÙ DUNG

(Tưởng hoa nhớ người)

Ban mai trắng tinh khôi
Phơn phớt hồng trưa nắng
Chưa kịp lời dâng tặng
Chiều nghiêng tím rũ rồi.

Nụ cười vui chưa trọn
Hoa đã mãn đời hoa
Nhìn sắc hương tan tác
Ai chẳng thầm xuýt xoa…

Trời cho thơm cho đẹp
Sao sớm nở tối tàn
Thương người như hoa mỏng
Chưa kịp tình đã tan!

31.01.2007

PHÙ DUNG – Nguyễn Ngọc Hưng.

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Ngọc Hưng

Nguyễn Ngọc Hưng. Quê quán: Hành Thịnh, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Thích sống vui vẻ, nhẹ nhàng, làm thơ để chia sẻ vui buồn với mọi người và được mọi người đồng cảm, sẻ chia.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *