logo

“NỖI NHỚ DÒNG SÔNG, NỖI NHỚ LÀNG…”

Đồng điệu cùng “trái tim làng” trong hai câu mở và kết bài thơ, “Chiếc mỏ neo” là hình tượng cụ thể hóa của tình quê hương, sợi dây gắn kết con người vào mảnh đất cha ông: “Chiếc mỏ neo nằm giữa trái tim làng” – Chiếc mỏ neo còn neo trái tim làng!”

Bài thơ CHIẾC MỎ NEO của Nguyễn Ngọc Hưng đã gói hồn vía quê kiểng, nỗi hoài hương… ở phạm trù địa lý thu hẹp nhất: Làng – nỗi nhớ làng!

Quê hương: Một khái niệm trừu tượng, mơ hồ… tuy lẩn khuất mà hiện hữu bền chặt trong tâm thức, đó là “chùm khế ngọt, con đường đi học rập rờn cánh bướm, cánh diều tuổi thơ, con đò bến sông… Là cầu tre lắt lẻo, là đêm trăng ngời ngợi hương cau thấm đẫm đất trời…” (Ý thơ Đ.T Quân).

Những hình, khối, mảng, mảnh rời,… Những “lát cắt” đặc trưng mượt mà trong vô vàn biểu tượng thuần phác ấy, là mạng mạch “trái tim làng”, cố kết nên dung mạo làng. Là đáp án cho câu truy vấn mơ màng, quê hương là gì?
Neo lòng người vào xứ sở, tình tự quê hương trầm tích ở góc khuất tâm hồn. Điều thiêng liêng ấy ngời sáng: “Dưới mặt trời bỗng lấp lánh ánh kim”, cho dù “khuôn mặt thời gian phô bày han rỉ.”

“Chiếc mỏ neo” còn neo tâm thức vào đất quê bằng những di sản tinh thần (phi vật thể) bằng câu ầu ơ bên cánh võng: “Những chồi búp xanh xanh như mày mắt/ Ngơ ngác hoài câu hát gió mùa thu”. Bằng nỗi cơ cầu chiêm khô mùa thối: “Tiếng chim chuyền bụi ớt nghẹn lời ru/ Mùa hạn hán, mùa mênh mang nước nổi”. “Thương bến nước con đò quên chạy lũ/ Vắt kiệt sức nuôi cánh đồng ba vụ/ Đất bạc màu trăn trở giục mùa lên (thơ NNH). Bằng mang mang niềm trắc ẩn: “Lòng tha thiết đụn rơm vàng tóc rối/ Thương bờ dâu xanh rút ruột nuôi làng”. (“Đụn rơm vàng tóc rối” – một liên tưởng rất Âu – hóa: bờm xờm một mái tóc bạch kim biếng chải!). Bằng tấm tình thảo thơm với quần thể cộng sinh: “Cây cuốc bòn để lại chạc khoai lang/ Lưỡi liềm mót lúa rơi chừa gốc rạ/ Ao tát cạn vẫn còn đôi tăm cá” (“Đôi tăm cá”: Thi ảnh “thực” một cách tinh tế. Chỉ là những sủi tăm dậy động thôi – Cá đã lủi hết dưới sâu sau “vụ truy sát”).

Không kém “thơm thảo” Xứ Nghệ của nhà thơ Lê Huy Mậu cũng trải lòng: “Ta rửa rau dưới sông cho con cá cũng ăn, ta mổ lợn/ con quạ khoang ngồi chờ chia thịt, cá dưới sông cũng có Tết như người” (Khúc hát sông quê). Nhưng những động thái nhân văn ấy của quê nghèo chỉ ấm tình chứ chưa đủ no lòng; đành thôi: “Mà ạ ơi không giữ được cánh cò”. Mở ra những cuộc ly hương “Vẫy cánh thiên di”: “Giáp hạt nào cũng bạc mặt vì lo/ Nên lời hứa chân trời luôn nóng bỏng”.

Lẫn trong hành trang cuộc tha phương, và tùy cấp độ tha hương, “trái tim làng” vẫn lặng thầm dõi nhịp. Những nhịp xốn xang bởi “Ở quê nhớ quê” (tựa bài thơ NNH) “Người đi xa có u hoài/ Cũng thường thôi! Mình ở ngay quê mình/ Sao lòng khắc khoải năm canh/ Như nơi cắt rốn đã thành cố hương!”. Nghẹn ngào nhịp phân ly khi cố thổ đã “khuất tầm nhớ thương” (NNH), đã hút tắp dưới cánh bay… Mang mang nhịp u trầm: “Vân hoành Tần Lĩnh gia tại” “Thấy mây Tần ngỡ đó là thôn Vân (Nguyễn Bính). Ngày năm cùng tháng tận, ông Táo đã cưỡi cá chép về trời, trái tim làng hối hả dồn nhịp theo vòng bánh xe những hành trình xuôi Nam ngược Bắc…! “Nước nhớ nguồn, chim nhớ cội thương cây/ Người muôn ngả mơ giấc mơ đoàn tụ/ Mùi hương khói xui ta về lối cũ/ Chiếc mỏ neo còn neo trái tim làng!”

Nên chi: “Ba mươi năm bốn phương trời lưu lạc/ Tôi vẫn hằng mơ một buổi quay về/ Rào dâm bụt có còn chong sắc đỏ/ Như mắt người mong đợi kẻ xa quê! (Dấu chân trên cỏ – NNH).

Có khi “quay về” chỉ còn nằm trong… mộng tưởng: “Tin không bạn, chỉ non mười cây số/ Mà một đi, chín mùa khát chưa về/ Dòng sông ấy ngọt ngào như cam lộ/ Cứ trôi ngoài nứt nẻ cánh đồng mê” (Bóng mẹ bóng quê – NNH).

Chỉ còn cháy bỏng một nỗi… Hoài Cố Hương!
“Muốn dập lửa cho dịu lòng sa mạc
Đêm vục đầu vào nỗi nhớ vại chum” (Lặng lẽ chốn xưa – NNH)

* Vĩ Thanh:

Theo một cách nhìn nào đó, NNH đã “tha hương” ngay trên mảnh đất, nơi có “Núm ruột ngày xưa đã mọc lên thành đụn mối” (Giấc mơ làng- NNH). Hơn ba mươi năm qua, bi kịch riêng đã “neo” cuộc đời tác giả vào chiếc giường đơn để mà “Viết là sống như sắp rời cuộc sống/ Chưa biển thơ sóng chữ đã rạt rào” (Thơ NNH). Và người đọc sẽ thấu cảm vì sao những “sóng chữ” về quê hương lại tha thiết đến vậy! Có thể có người cho rằng: So với những bài thơ khác cùng đề tài của NNH, “Chiếc mỏ neo” chỉ ở vào vị trí “Á hậu” – bốn khổ thơ đầu mượt mà chất thơ, hai khổ cuối văn phong hơi có vẻ… tường thuật, cho dù đó là sự tường thuật không kém phần chắt lọc, tinh tế về một hiện thực nghiệt ngã, nhói đau. Dẫu sao bài thơ cũng đã “thả một chiếc mỏ neo be bé” vào lòng bạn đọc, nên có bài viết này trình làng.

Bà Rịa- Vũng Tàu ngày 26.05.2015.

“NỖI NHỚ DÒNG SÔNG, NỖI NHỚ LÀNG…” (NNH) – NGUYÊN ĐẠO.

CHIẾC MỎ NEO

Chiếc mỏ neo nằm giữa trái tim làng
Quả bom tấn trục lên, cười mộng mị
Khuôn mặt thời gian phô bày han rỉ
Dưới mặt trời bỗng lấp lánh ánh kim.

Bao độ cha ông đốt đuốc đi tìm
Lòng bao độ che mù sương ẩn mặt
Những chồi búp xanh xanh như mày mắt
Ngơ ngác hoài câu hát gió mùa thu.

Tiếng chim chuyền bụi ớt nghẹn lời ru
Mùa hạn hán, mùa mênh mang nước nổi
Lòng tha thiết đụn rơm vàng tóc rối
Thương bờ dâu xanh rút ruột nuôi làng.

Cây cuốc bòn để lại chạc khoai lang
Lưỡi liềm mót lúa rơi chừa gốc rạ
Ao tát cạn vẫn còn đôi tăm cá
Mà ạ ơi không giữ nổi cánh cò.

Giáp hạt nào cũng bạc mặt vì lo
Nên lời hứa chân trời luôn nóng bỏng
Người đi xa mang theo ngàn hy vọng
Về một tương lai hạnh phúc đủ đầy.

Nước nhớ nguồn chim nhớ cội thương cây
Người muôn ngả mơ giấc mơ đoàn tụ
Mùi hương khói xui ta về lối cũ
Chiếc mỏ neo còn neo trái tim làng!

(Trích Chùm thơ dự thi 41 – Đất và người Hải Phòng)

CHIẾC MỎ NEO – Nguyễn Ngọc Hưng.

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Ngọc Hưng

Nguyễn Ngọc Hưng. Quê quán: Hành Thịnh, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Thích sống vui vẻ, nhẹ nhàng, làm thơ để chia sẻ vui buồn với mọi người và được mọi người đồng cảm, sẻ chia.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *