logo

CẢM NHẬN VÓI TẬP THƠ NỐI ĐÊM CỦA NGUYỄN THỊ PHƯỚC

Đề dẫn: Với một người có danh phận và đã nhận rất nhiều giải thưởng văn chương như Nguyễn Thị Phước (NTP) thì chắc chắn đã có rất nhiều người viết về văn chương và con người chị. Dù thế nào chăng nữa sau khi đọc “Nối đêm” tôi vẫn tìm cho mình một lối mòn để cảm nhận tập thơ – Một tập thơ đã chinh phục cuốn hút tôi ngay lần đọc đầu tiên.
Tôi bây giờ không có tham vọng bài viết của mình được đăng tải trên báo chí (mặc dù đã có nhiều bài viết đăng trên Tạp chí thơ và các báo Văn nghệ Trung ương, địa phương). Tôi vẫn cho rằng viết cảm nhận văn chương mà để đăng báo là cách viết lệ thuộc nếu không muốn nói là nô lệ của báo chí, của số trang số từ, một cách viết tự tước bỏ cảm xúc của mình. Một tập thơ hằng năm bảy chục, hàng trăm bài, một bộ tiểu thuyết hàng nghìn trang, một tập truyện ngắn dày dặn mà phải bó hẹp trong vài nghìn từ để viết về nó thì chỉ có thể sử dụng ngôn ngữ văn học để tâng bốc hoặc ngược lại. Cách viết như vậy chẳng giúp gì được cho văn chương, cho tác giả và cho người đọc. Người bình phải bỏ công lao động nghệ thuật để giải mã những giá trị, những thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm cho cõi người trong từng trang viết, trầm ẩn phía sau trang viết. Để làm được điều đó người bình trước hết phải có tâm, lòng nhân ái và sự rung cảm chân thành của con tim, của trí tuệ, một sự rung cảm cùng tần số, cùng bước sóng với tác giả sau đó mới đến yếu tố tài năng.
Đọc “Nối đêm” tôi cảm nhận được rằng ngôn ngữ trong thơ NTP là thứ ngôn ngữ rất đời thường. Tôi không tìm ra được trường ngôn ngữ của riêng chị. Nhưng thơ NTP lại có sức mạnh chinh phục, cuốn hút, lay thức và ám ảnh cõi người. Có lẽ chính từ cảm hứng sáng tạo bạo liệt của chị, bằng tài năng của chị – một tài năng lớn đã truyền được cảm hứng cho người đọc.
Phía sau con chữ rất đời thường của NTP là tầng tầng lớp lớp những thông điệp mà chị muốn gửi gắm cho cõi người. NTP đã tạo cho ngôn ngữ đời thường ấy một chất men say và lửa ấm của thơ. Chính bằng sự bạo liệt trong cảm xúc, trong suy tưởng của mình, NTP đã khám phá những điều kỳ diệu nhất mà người khác không thể. Dám phơi trải bản chất của tình yêu, của cuộc sống, của cái tôi mà người khác không dám phơi trải. Chị có rất nhiều những suy nghĩ mà tôi coi là ngược chiều trong sáng tạo.
Cảm nhận: Tôi xin được bắt đầu cuộc hành trình đầy gian lao khổ ải nhưng cũng rất nhiều cảm hứng hạnh phúc (tôi tin là như thế) theo dọc chiều dài của “Nối đêm”.

* ” Bài ca của một con thuyền”:

Đây là bản ngã – bản ngã của một thi nhân đích thực. Đã là bản ngã thì không thể đổi thay vì nó là thuộc tính của trời “cha sinh con trời sinh tính”. Không có một thế lực nào của tự nhiên, của con người hay chính bản thân ta làm thay đổi bản ngã của mình. Cũng như “Trà” của Phùng Cung:

“Quất mãi nước sôi
Trà đau nát bã
Chẳng đổi giọng Tân Cương”

Đã là giới văn nghệ sĩ thì không ai không biết Nhà thơ Phùng Cung và cuộc đời của ông. “Trà” là tuyên ngôn về bản ngã của Phùng Cung, thế mà có người lại bình bài thơ này là cảnh uống trà của các văn nghệ sĩ nghèo. Đau cho thơ quá, bình như thế thì khác nào vác cuốc đào và chôn thơ đi.
Đã là bản ngã phải luôn là mình, là chính mình, không có cuộc hành trình nào của những thi nhân đích thực lại không đau thương, khổ ải, có khi là cả sự nát tan thì người ta vẫn phải đi đến cùng. Chính trên cuộc hành trình như thế mới sản sinh ra tứ thơ đích thực. NTP đã mượn con thuyền để nói về bản ngã của mình. Phải dũng cảm dù “Lá buồm cũ nát” vẫn phải ngang nhiên “đón sóng triều mặn chát” và vẫn phải “Tự làm vỡ mình bởi đá ngầm” mà cảm nhận cho đến tận cùng nỗi đau nhân thế, nỗi đau của riêng mình và còn phải biết:

“Tự băng bó
tự ru mình
hoan lạc trong nỗi đêm”
Chính đó là:
“Tiếng hú gọi
thao thiết
man dại
đắm say”

Đó là thơ, tiếng gọi ngàn đời của thơ phải là như thế. Vẫn biết rằng cuối cuộc hành trình của thơ là sự tả tơi rách nát như con thuyền trước bão tố phong ba thì những thi nhân đích thực không bao giờ chịu bỏ cuộc. Họ lại đứng dậy và lại tiếp tục sáng tạo – sáng tạo để khẳng định sự tồn tại đích thực trong thơ ca. Có thể coi “Bài ca của một con thuyền” là hành trình thơ, là tuyên ngôn thơ của NTP.

* “Nối đêm”:

Ta không thấy mối liên tưởng nào của sự chắp nối ở đây mà chỉ có hai từ “Đêm ngắn”. Phải chăng cảm thức về thời gian, hạnh phúc của NTP là thế. Khi được một lần “ngồi tàu” với người mình yêu. Một đêm vẫn vậy, 12 giờ cứ thế nhân lên sẽ là chừng ấy phút, sẽ là chừng ấy giây và chừng ấy khoảnh khắc không thể khác. Nhưng hạnh phúc ở đây quá mong manh, quá ngắn ngủi nên khi được ngồi tàu với anh đêm của NTP như co lại. Chính vì thế chị muốn nối đêm dài ra mãi mãi để được hạnh phúc mãi mãi. Tôi nghĩ vẫn còn một ẩn ý khác nữa, trong đêm người ta sống thật hơn, bóng tối phủ đi tất cả người ta không cần phải che đậy bộ mặt thật của mình. Còn nhớ Nguyễn Ngọc Tư có một ngôi nhà nhưng chị không bao giờ dám mời ai về ngôi nhà ấy của mình. Vì ở đó NNT không thể đeo mặt nạ.
Ngôn ngữ trong bài thơ vẫn thế, giản đơn và đời thường nhưng lại toát lên một khát vọng bỏng rát về một cuộc sống ấm êm hạnh phúc. Gánh nợ tình, nợ đời đang nặng oằn vai mà thi nhân không được trở vai vì trong một lần trở vai ấy tất cả sẽ rơi xuống, đổ vỡ và nát tan. Con người ở đây sao có những khát vọng nhỏ bé đến thế, nhưng nghĩ sâu xa thì nó chẳng bao giờ là nhỏ bé:

“Ước làm bùn nuôi sen, thơm sen”

Câu chữ không có gì mới nhưng khi NTP kết dính nó lại thì sức nặng tâm trạng, sức nặng ám ảnh của nó là vô cùng. Vâng, chỉ là bùn, đã là bùn thì hôi tanh và rác rưởi. Nhưng bùn nếu được chắt lọc thì nó vẫn thăng hoa vào hương sen, một sự lan tỏa bồi đắp. Nếu biết chắt chiu thì tất cả sẽ thành tinh túy thơm tho mà dâng hiến cho đời. Đó chính là hương sen kỳ diệu – là thơ.

“Ước là cỏ lấn thềm giữ dấu chân”

Lại tự biến mình thành nhỏ bé yếu mềm, dẫu vậy vấn muốn lưu giữ dù chỉ là một dấu chân của người trong mộng vì cỏ sẽ lưu giữ được mà sẽ không làm trôi tuột đi tất cả.

“Ước một lần
không cần nói nhớ Hà Nội”

Phải đọc bài thơ “Nghĩ trong chiều Hà Nội” ta mới thấu hiểu hết chữ nghĩa của câu thơ đơn giản này nó chứa đựng một tâm trạng, một nỗi niềm. NTP phải vin vào cái cớ nhớ Hà Nội để nhớ về anh và vì anh mà em yêu Hà Nội. Rồi:

“Một lần xới cơm nâng hai tay”

Hành động của người vợ dịu dàng hiền thục được dùng hai tay nâng bát cơm cho chồng mà NTP cũng phải ước ao. Sau câu thơ ấy ta mới thấy NTP khát khao một tổ ấm gia đình biết chừng nào. Và cũng sau câu thơ ấy ta mới thấy hết sự hoang vắng của cõi lòng. Rồi vẫn là ước:

“Một lần ngồi tàu
đêm ngắn”

Ngồi tàu ở đây là ngồi tàu với anh. Qua cảm thức thời gian của NTP ta mới thấm hết vì nó cứ nhói vào tim ta. NTP đã ước cho con tàu ấy cứ chạy mãi, chạy mãi về phía vô cùng trong đêm và chị đã muốn nối cho đêm dài mãi, dài mãi cho đến vô cùng.
Nhưng anh vẫn không bao giờ ngoảnh lại để xem phía sau anh đang tồn tại những gì. Chỉ cần một lần ngoảnh lại anh sẽ thấu hiểu và biết đâu sẽ dừng lại trong cuộc đời này. Sau anh là nỗi khát khao của một con người:

“Là sắc màu ngẩn ngơ
Những làn hương dại ám ảnh
Có sông im lặng nói xanh
Mây nói trắng
Tóc nói
Chờ”

Đó là em, em của anh tất cả, em sẽ dâng hiến cho anh tất cả, đừng để cho em phải chờ anh đến bạc tóc phôi pha.

* “Tin nhắn ngày mười lăm”:

Sao không một ngày nào khác mà lại là ngày 15 ? Điều đó có nghĩa tin nhắn này không phải là lần đầu. Biết bao tin nhắn đã gửi đi trong suốt 15 ngày dằng dặc đó. Rồi cũng thật kỳ lạ, gửi tin nhắn đi lại cầu mong cái số cần gửi đến nằm ngoài vùng phủ sóng. NTP lại sợ chạm đến nỗi đau của ai đó hay trong tin nhắn ấy là nỗi đau của chính mình. Sự tự dày vò ấy của NTP làm ta đau đớn, nỗi đau này không chỉ làm đau con người mà còn “đau cả mạng”. Bài thơ ấy vụt lớn hẳn lên, tạo cho ta một trường cảm xúc đi đến cõi vô biên bởi hai câu thơ dưới đây:

“Đã uống nước sông Tương
Thì biết đường đâu để tìm khôn tránh dở”.

Sông Tương là biểu tượng của tình yêu đích thực nhưng vẫn là tình yêu trong đắng cay dang dở, mất mát và thương đau. Khi đã yêu rồi người ta hóa dại khờ, ngu ngơ không biết phân định đúng sai, thật giả. Tứ thơ này, cách suy nghĩ về tình yêu của NTP được lặp đi lặp lại nhiều lần trong “Nối đêm”. Tất cả chúng ta đều cảm nhận được sự sẻ chia đồng vọng qua hai câu thơ trên. Vì tất cả những ai trong đời đều đã hơn một lần không thể “tìm khôn tránh dở”. NTP lại nghĩ về Hà Nội, chị lại cân đo đong đếm khoảng cách trên bản đồ “chỉ ba lóng tay” mà khoảng cách đã là vô tận – nơi có anh mà em không thể tới.

* “Ru”:

Ban đầu là một nỗi thèm khát:

“Một thời con gái tôi thèm hát ru
Xin ẵm trẻ con trong khu tập thể”

Việc được hát, được ru cho trẻ ở khu tập thể tưởng đơn giản hóa ra đối với NTP vẫn là sự khát thèm và phải cầu xin cho sự khát thèm ấy. Nhưng rồi khi không còn là trinh nữ nữa, khi chị đã có tất cả nhưng sao lời ru của mình lại không thể ru cho con mình ngủ được. Nỗi đau đó cứ dằn vặt mãi:

“Rồi tôi có được những gì của mình
Đêm khản giọng ru mà con vẫn khóc
Đủ ba tháng mười ngày chưa thôi”

Lời ru của chị bất lực hay con chị mắc bệnh khóc dạ đề, chắc vậy. Nhưng đó chỉ là đứa trẻ thơ bé chưa biết gì. Nỗi đau chưa dừng lại ở đó mà bị đẩy lên, đẩy đến tận cùng:

“Tôi cố ru chồng, chồng không ngủ được”

Đúng ra người chồng không ngủ được phải vỗ về an ủi ôm ấp nhưng lại:

“Quay mặt về phía trống người”

Câu thơ như cào xé tim ta đến ứa máu. Thử hỏi trên đời này có người đàn bà nào bất hạnh và cô đơn như thế ? Lời ru ở đây may ra chỉ cảm hóa được cỏ cây và cũng thật lạ, cỏ cây vô tri vô giác mà lời ru lại cảm hóa được, cớ sao con người ?

“Tôi tự ru mà mình vẫn thức
Ngoài trời nước mắt cây rơi”

Dù quá ít ỏi nhưng dù sao đây cũng là một niềm an ủi cho người đàn bà hát ru và rồi không ru được người, đành:

“Tôi về ru khói chiều mưa như sương”

* “Cầu nguyện”:

Có nỗi đau nào như thế ? Mình tự cầu nguyện cho ngọn lửa tình yêu trong mình dập tắt.

“Giờ thắp hương ta lạy vô cùng
Xin rằng – thôi đừng cháy nữa
Xin rằng – thành trì rêu phủ
Lối người – cỏ thơm đá mềm”

“Lối người”

ở đây là cõi người hay chỉ riêng mình anh và nếu vậy thì tấm lòng của NTP ở đây cao thượng, vị tha và rộng lớn đến vô cùng. Dù anh không một lần ngoảnh lại mà vẫn cầu nguyện cho anh tất cả những gì tốt đẹp nhất

* “Ý nghĩ bên cành đào”:

Bên cành đào vào những ngày Tết đến bộn bề bao công việc lo toan của người mẹ, người vợ, người chủ bếp núc cơm cháo của một gia đình mà NTP vẫn còn kịp nghĩ về cõi nhân gian. Có lẽ đó là chuyện thường tình của một nhà thơ đích thực, một nhà thơ giàu lòng nhân ái. Nhưng rồi một sự liên tưởng kỳ vĩ có tầm vĩ đại của thiên tài. Tôi coi những câu thơ, những tứ thơ lay động được tâm thức cõi người là sự vụt hiện của thiên tài mặc dù trong đời thường Nhà thơ không phải là thiên tài. Bên cành đào NTP đã nghĩ về một tình yêu vĩ đại của vị minh quân Hoàng đế Quang Trung. Đây là lần đầu tiên và chắc chắn là lần duy nhất trong thơ nói được đủ đầy nhất về tình yêu, giá trị đích thực của tình yêu. Sự tích cành đào của vua Quang Trung gửi tặng cho công chúa Ngọc Hân – người con của xứ đào Bắc Hà kịp chiều 30 Tết trong đời ai cũng biết. Nhưng chỉ có NTP mới khám phá được giá trị đích thực của nó – nghĩa cử cao đẹp của tình yêu. Những câu thơ văn xuôi ở đây có sức lay động ám ảnh và lan tỏa đến kỳ diệu. Ngôn ngữ của NTP đã chuyển tải cho cõi người một thông điệp về tình yêu. Đó chính là khát vọng của chị. Chị đã khẳng định trong cõi nhân gian này công chúa Ngọc Hân là người con gái duy nhất được hưởng trọn tình yêu vĩ đại, đích thực và trong cõi nhân gian này chỉ có một người đàn ông biết yêu và trân trọng tình yêu, đó là Quang Trung hoàng đế. NTP lại nghĩ về những con ngựa trạm:

“Hẳn đây là những con ngựa dũng mãnh, đẹp và lãng mạn biết bao”.

Đẹp, dũng mãnh, lãng mạn không chỉ chúng là những chiến mã oai hùng mà vì chúng là sứ giả của tình yêu.

* “Nghĩ trong chiều Hà Nội”:

Có vạn ngàn Nhà thơ viết về tình yêu Hà Nội và họ cũng có vạn ngàn lý do để yêu Hà Nội, tình yêu đó thường được gắn với những điều cao quý là tình yêu quê hương, Tổ quốc, yêu những danh lam, thắng cảnh của Hà Nội. Còn NTP lại dám phơi trải không hề dấu diếm điểm đến để yêu Hà Nội của mình là: “Vì anh mà tôi yêu Hà Nội”. Và Hà Nội của anh:

“Dù Hà Nội chật chội ồn ào ù tai tiếng xe máy, tiếng băng đĩa – món lẩu nhạt, chóng mặt, khói bụi hàng hóa và không có khoảng trống cho người nghĩ về nhau”.

Thì NTP vẫn yêu Hà Nội, vì ở đó có anh. Những câu thơ bộc trực, sòng phẳng đó làm tôi nhớ đến hai câu thơ của Nhà thơ Trần Nhuận Minh:

“Câu thơ như gan ruột
Phơi ra giữa trời mây”

NTP cũng đã phơi gan ruột của mình ra giữa trời mây, cõi người bằng chính sự khẳng định “vì anh mà tôi yêu Hà Nội”. Đó là một tình yêu mãnh liệt đích thực và cũng:

“Vì anh mà tôi yêu những đôi lứa tình nhân bên Hồ Gươm dù biết rằng chẳng bao giờ được ngồi cùng anh thử vào chiếc ghế đá của họ”.

Vâng, chỉ là thử thôi chứ không phải là mãi mãi mà cũng không thể nào có được. Một tình yêu mãnh liệt nhưng đơn phương, cũng chính vì thế mà thi nhân sẵn sàng phản bội và chấp nhận một nghịch lý là sẽ đi với một người đàn ông khác miễn rằng người đàn ông đó đồng ý cùng đi với thi nhân và còn hơn thế nữa:

“Và tôi sẵn sàng biến thành cái rễ mơ
Trong khu vườn xa lạ của anh ta”

Thế mới hiểu được sự khát khao tình yêu ở đây cháy bỏng đến chừng nào cho dù chưa hẳn đó là tình yêu mà chỉ là một sự trả thù. Những câu thơ như những câu nói cửa miệng thông thường làm sao NTP lại truyền được vào đây sức mạnh tâm trạng, đó chính là tài năng hóa thân sau ngôn ngữ của NTP.

* “Câu hát cũ trên đồng”:

Tôi đã định bỏ lại bài thơ, nhưng không thể vì những câu thơ đã gợi lại cho tôi bao điều về dĩ vãng xa xăm. Trên cánh đồng nghèo của vùng quê Võ Liệt, Thanh Chương yêu dấu đượm buồn của tôi. Về những câu hát đò đưa, câu hát ví dặm trên sông Lam dịu mềm như nhung lụa cả những đêm tối trời cũng như những đêm trăng sáng. Dù đã đi ngàn suối trăm sông trong quãng đời địa chất của mình nhưng với tôi sông Lam là con sông đẹp nhất vì đó là con sông của đời tôi, con sông của lòng tôi, con sông đã nuôi tôi lớn lên và trở thành người, con sông của sum họp vui vầy với bạn bè trang lứa vào những đêm trăng sáng trên bãi cát vàng rộng đến mênh mông. Những chiều hè đàn phượng hoàng về đậu kín cả bãi cát (tôi tin đó là những con phượng hoàng chứ không phải là những con diều hâu). Bãi cát màu vàng trở thành màu nâu thẫm. Tôi tin đó là những con phượng hoàng đã từng về đậu trên núi Hồng Lĩnh, chỉ tiếc rằng núi Hồng Lĩnh không đủ 100 ngọn cho 100 con chim nên không thể trở thành đất đế vương. Nghe bà kể mà lòng tiếc nuối. Rồi những mùa thu khi hoa cải nở vàng rực trên cả một triền sông, hoa cải thì đã bay về trời còn tôi thì kiếp rau răm ở lại chịu đời đắng cay cho đến hết một kiếp người. Nhưng tôi đã nói ở trên, tôi viết cho riêng tôi vì cảm xúc của tôi mà chính thi ca đã gợi mở cho tôi. Câu hát cũ trên đồng của NTP đã bắt tôi liên tưởng. “Câu hát cũ trên đồng” của NTP là câu hát của dĩ vãng, của tuổi thơ. Không gì có thể thay thế được tuổi thơ ta, dù có đói nghèo, lãm lũ. Đó là những điều mà NTP muốn gửi gắm. Nhẹ nhàng nhưng sâu lắng. Bài thơ lay thức ta trở về với tuổi thơ, với dĩ vãng xa xăm.

* “Giấc mơ Đền Cuông”:

Nghĩ gì khi ta không còn là chính mình để mà suy nghĩ. Tất cả những cảm nhận, những đam si, những lạc thú trong tình yêu của tôi trước đây đã bị NTP đập nát ra từng mảnh. Mảnh nào cho yêu, mảnh nào cho đời, mảnh nào cho thơ. Bài thơ bạo liệt quá, đây được coi là tuyên ngôn về tình yêu đích thực. NTP không cần giấu diếm, không cần che đậy mà đứng hẳn về phía Mỵ Châu để tuyên chiến với mọi thế lực rắp tâm làm hại đến tình yêu. Theo truyền thuyết sự dại khờ và cả tin của Mỵ Châu mà nước mất nhà tan. Nhưng như NTP đã viết “Đã uống nước sông Tương thì biết đường đâu để tìm khôn tránh dở”. Đối với NTP, tình yêu là cao cả, là tối thượng. Phải chăng vì lời ru không làm chồng chị ngủ được mà quay mặt về phía trống người. Phải chăng người trai Hà Nội mà chị hằng yêu với tất cả trái tim, tất cả cuộc đời mình đã lãng quên chị, bơ vơ lạc lõng trong hoang vắng giữa ồn ào náo nhiệt. Một ước mơ nhỏ nhoi được bưng bát cơm bằng hai tay dâng cho chồng mà không có được nên khát vọng yêu đương của chị luôn bùng cháy, rồi chị đã thổi, đã gửi gắm vào bài thơ này. Chị nói về cuộc đời chị hay chị nói thay cho bao thân phận có cuộc đời như chị. Tôi tin chị nói cho chính mình, nếu không thế làm sao có được những dòng thơ viết bằng cả nước mắt và máu của con tim khát đợi. Chỉ trừ Ngọc Hân công chúa, người đàn bà duy nhất trên thế gian này được hưởng trọn vẹn hạnh phúc mà người yêu mang đến. Vì tình yêu mà Mỵ Châu sẵn sàng phạm tội. Dù biết sẽ rơi đầu lần nữa, dù chẳng muốn hóa ngọc vẫn phải làm kiếp trai cho ngọc hóa thân, dù cho Trọng Thủy bây giờ chỉ là:

“Dẫu người là ông già mỏi mệt
Hay hành khất lang thang”
Vẫn: “Cúi xin nhân dân thứ tội”
Và: “Nếu vẫn còn nỏ thần
Thiếp lại dâng chàng lần nữa”…

Sau câu thơ đó là: (…) có nghĩa là không chỉ một lần mà là mãi mãi sẽ dâng hiến nỏ thần cho người yêu. Vì tình yêu của chàng đã mang đến cho Mỵ Châu:

“Thiếp chỉ muốn được sống hết kiếp người đàn bà
Vợ yêu của chàng môi ẩm hơi thở chàng
Da thịt nõn nà lên men vòng ôm cuộn xiết của chàng
Vì vòm ngực mái đầu chàng mà đôi tay em mềm ấm
Vì khuôn mặt chàng mà nây vú thon lưng”

Nhiều Nhà thơ đã khóc thương Mỵ Châu đến nỗi nước mắt và máu có thể ngập đầu pho tượng không đầu ở Cổ Loa thành, và giờ đây nước mắt của NTP đang chan đầy trước cửa Đền Cuông. Suy cho cùng Trọng Thủy chỉ là công cụ của lòng tham và tội ác. Hai trái tim thơ trẻ ấy chỉ vì tình yêu.

* “Nhìn mưa”:

“Còn duyên ta khóc
Hết duyên ngồi cười”

Người ta thì: “Còn duyên kẻ đón người đưa” còn NTP thì “Còn duyên ta khóc”. Còn duyên mà không ai đưa đón thì cái duyên ấy mới bạc bẽo và bẽ bàng làm sao. Còn duyên mà không cám dỗ được người yêu, không làm được trò trống gì cho tình yêu thì hết duyên ngồi cười âu cũng là thường tình. Cười trong nước mắt, cười trong đắng cay ngây dại.
Mưa thì đẹp:

“Trời đang vãi ngọc”
Và chim chóc cũng lứa đôi bay về tổ:

“Chim về tổ rồi”

Còn lại một mình đơn côi và ngẫm ngợi về sự đen bạc của tình yêu:

“Bặt nhau mười năm không cũ
Gần chỉ một ngày đã vơi
Tình yêu khe khắt
Lỗi chi ta, người”

Dù vậy người đàn bà vẫn kiên gan cùng tuế nguyệt mà chịu đựng đến suốt đời:

“Ta không hối hận
Biết đau suốt đời”

Không hối hận vì đã trót yêu người.

* “Những sợi rơm trên đường”:

Chỉ là những sợi rơm mà theo như NTP:

“Hình như ai đi chợ sớm
Vội chi làm rớt rơm vàng”

Điều đó chứng tỏ NTP yêu cuộc đời này lắm lắm. Chỉ sợi rơm vàng rơi trên đường phố mà cả thực tại và dĩ vãng trào dâng trong lòng thi nhân. Đọc bài thơ tôi bỗng nhớ đến cuốn sách “Bông hồng vàng” của Nhà văn Nga Xô Viết lỗi lạc Pa-u-tốp-ski nói về lao động sáng tạo nghệ thuật. Nhà văn nhà thơ phải biết chắt chiu những gì dù là nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống, bởi đó chính là những mạt vàng mà nhà văn, nhà thơ có thể sáng tạo ra những tác phẩm bất hủ – bông hồng vàng để tặng cho người ta yêu, tặng cho cuộc đời.
Trước hết sợi rơm đã gieo vào lòng thi nhân cảm xúc trực cảm của thực tại:

” Người đã đâu rơm còn đó
Có gì tôi cứ xốn xang”

Những điều tôi suy nghĩ như trên đã được NTP minh chứng:

“Rơm vàng ơi những sợi vàng”

Đối với NTP không đơn thuần đó là sợi rơm mà là sợi vàng lấp lánh nối tâm hồn chị giữa hiện tại và quá khứ. Sợi rơm ngày xưa tình nghĩa lắm:

“Ngày trước chỉ cho – không bán
Rơm thương người rơm bầu bạn”
Và lặng thầm thủy chung:
“Cứ thầm lặng thơm rồi tàn”

Mùi thơm của rơm có đến mức kỳ diệu vậy không ? Chỉ có người trong cuộc phải có một giác quan bén nhạy, một sự rung cảm đến tận cùng của thi nhân mới cảm nhận được điều đó. Chính vì vậy tôi luôn nghĩ những thi nhân đích thực đều tồn tại trong họ một góc chứa đựng sự thiên tài hễ có dịp là bùng lên phát sáng. Xin đừng nghĩ tôi coi NTP là một thiên tài, nhưng thơ chị là sản phẩm của thiên tài. Sự liên tưởng ở đây có gì đó thuộc về sự kỳ diệu. Rơm không chỉ thương người, thủy chung với người mà với cội nguồn nơi rơm sinh ra. Một lần nữa NTP lại khẳng định:

“Rơm vàng ! Ơi những sợi vàng
Thơm như là thương đời lúa”

Thật là tài hoa và cũng thật dạt dào sâu nặng. Chỉ một sợi rơm vàng rơi trên đường phố mà khát vọng về tình yêu lại bùng lên trong thơ của NTP, lại cầu mong cho tình yêu bén lửa (cháy bùng lên trong đời, soi tỏ cuộc đời và cho cả “người xa”).

“Thơm như là thèm bén lửa
Thơm như để dành người xa”.

Cuộc sống đổi thay, kinh tế đã ấm no đủ đầy hơn rất nhiều. Bây giờ là chăn ga gối đệm Hàn Quốc, máy sưởi, điều hòa nhưng cái nhìn về rơm của NTP chưa hẳn là: “khác chưa” mà nỗi nhớ ở đây vẫn ấm áp lắm. Dĩ vãng lại ùa về trong lòng, trong thơ chị:

“Rơm ấm mềm quây thành ổ
Ngày rơm đưa ta đến trường
Chiếc mũ, ổ rơm không còn
Mấy mươi mà thành chuyện cổ
Mặc cho ai quên ai nhớ
Rơm vẫn thơm vàng đời rơm”

Một sự khẳng định bất diệt của rơm. Con người vẫn cần đến cơm gạo thì đời rơm vẫn còn. Sợi rơm bây giờ được người ta bện lại để kết thành những vòng hoa đưa tiễn con người, rồi hóa thân cùng người để cùng đi vào cõi vĩnh hằng. Chỉ một sợi rơm vàng rơi trên đường phố đã là điều gì đó thật linh diệu, là duyên cớ để NTP tạo ra bài thơ bất hủ.

* “Nhật ký”:

Tình yêu vẫn chỉ là khát vọng, một người đàn bà chưa bao giờ gửi được vui và cũng chưa bao giờ gửi được giận vì yêu.

* “Nhật ký 2”:

Cuộc đời của những nghệ sĩ thực tại là như vậy sao ? NTP đã không ngần ngại phơi trải ra với đời mặt trái của cuộc sống văn học đương đại trong đó có chị. Nếu quả thực như vậy thì đến bao giờ ta mới có được những tác phẩm ngang tầm thời đại ? Nỗi buồn đau của cõi người là như thế. Chẳng trách con người ta bây giờ vô cảm đến ghê người. Chính giới văn học nghệ thuật đang sống vô cảm thì làm sao mà sáng tạo ra những tác phẩm để hướng cõi người đến với chân thiện mỹ, đến với lòng nhân ái. Họ chẳng giúp ích gì cho cõi người, cho văn chương. Tôi bắt gặp suy nghĩ đồng cảm này trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh. Nhưng câu thơ làm nhói tim tôi vẫn là câu kết:

“Đêm
Là đàn bà, nhà báo, nhà giáo, nhà … khất thực thơ”

Vâng, chỉ là đàn bà thôi chứ không phải là vợ. Người đàn bà có chồng quay mặt về phía trống người thì kiếp đàn bà bất hạnh làm sao. Cuộc sống hiện tại thử hỏi có mấy ai được làm vợ theo ý nghĩa đích thực của từ này. Trong quan hệ khác giới hiện nay đàn bà chỉ là đối tượng bị chiếm đoạt chứ không phải là đối tượng của tình yêu. Còn trong bối cảnh ban ngày như thế thì ban đêm “nhà báo” viết gì và “nhà giáo” dạy ai. Còn thơ sao lại là sự xin cho chứ không phải là sản phẩm của sự sáng tạo. Đọc bài thơ ta thực sự lo lắng, sợ hãi về văn hóa sống của giới công chức, văn nghệ sĩ trong công sở thời hiện đại.

* “Truông Bồn – Bản tình ca áo trắng”:

Dù NTP năm nay bao nhiêu tuổi, dù bài thơ này được sáng tác vào thời nào, tôi nghĩ bài thơ xứng đáng có mặt trong tuyển tập thơ sắp xuất bản của Hội Nhà văn Việt Nam, các Nhà thơ chống Mỹ.

* “Gửi sông Bùng”:

Vẫn là tiếng kêu khắc khoải của tình yêu. Nó giống như tiếng kêu khắc khoải gọi bạn tình của con chim Từ Quy trên cánh rừng đại ngàn âm u cô tịch khắc khoải và khắc khoải mãi không thôi…

* “Thư về Hà Nội”:

Vẫn là điệp khúc ấy mãi mãi không nguôi. Có lẽ tiếng kêu khắc khoải ấy cứ bám chặt vào cuộc đời, vào thơ của NTP. Dù đã vạn lần:

“Tôi chỉ niệm chữ “An”
Mà hồn lạc miền giông gió”

Thử hỏi trên cuộc đời này có ai đã yêu như NTP.

* “Một sớm Kim Liên”:

Tài năng ! Vâng rất tài năng ! Cả bài thơ rất dịu êm. NTP lại chọn thể loại thơ có tiết tấu nhẹ nhàng êm ái để viết về Kim Liên. Không một từ nào nói đến Bác mà sao ta vẫn thấy bóng Bác thân thương trên đất mẹ làng Sen. Một làng Sen đang dạt dào sức sống. Khi viết về Bác, về làng Sen nhiều thi sĩ cứ phải lên gân, cường điệu nhưng NTP thì không thế, thi ảnh đơn sơ, mộc mạc vì đó chính là di ảnh của Bác trên làng Sen quê mẹ.

* “Thị Mầu”:

Điện ảnh Việt Nam đã có bộ phim “Khát vọng bi thương” về Thị Mầu. Lẽ nào Thị Mầu đã “giấu” vào trong thân phận của thi nhân cũng chính là khát vọng bi thương đó.

* “Đà Lạt”:

Dù thi nhân đã viết:

“Chỉ có hồn thơ tôi bất lực”

Nhưng qua thơ NTP ta đã có một Đà Lạt hoàn toàn riêng tư của chị. Cái mới của “Đà Lạt” là chị đã tìm thấy tình yêu tươi mát nơi Đà Lạt. Ta cầu mong lúc nào tâm hồn của NTP cũng có cái nhìn thanh thản như vậy về tình yêu, về cuộc đời. Thi ảnh của bài thơ đã rung động và sẽ rung động đến tận cùng cảm xúc của người đọc cho dù đó là những trái tim vô cảm nhất.
Một thành phố bình yên mà rạng ngời mà đắm đuối mê say.

“Không đèn xanh đèn đỏ
Những dáng đường như eo lưng”

Một sự ví von thật tài hoa và nhuốm màu phi lý, nhưng đó là sự phi lý của thơ, làm nên thơ. Đọc câu thơ đó ta cứ muốn thả bộ mãi mãi trên những dáng đường như eo lưng ấy ở Đà Lạt để được vỗ về, để được ôm ấp. Còn dáng núi lại được so sánh và ví von:

“Những dáng núi đẹp như ngực con trai, con gái”

Thì ai mà chẳng ước mơ được một lần trèo lên những dáng núi như thế (xin đừng hiểu theo ý nghĩa phàm tục của người đời mà phải hiểu theo ý nghĩa thánh thiện của thơ). Ai không ước mơ khi được đắm mình trên những vòng ngực “đầy hoa cỏ và sương” ấy cho đến muôn đời. Bài thơ bồi đắp, lan tỏa trong ta tình yêu lớn lao không chỉ riêng với Đà Lạt mà chung cho cả cuộc đời, cho cả đất nước này. Nhiều khi đọc thơ NTP lòng ta như se sắt nhưng với “Buổi sáng ở Kim Liên”, “Đà Lạt” ta lại vỡ òa và tâm hồn ta lại quyện hòa vào hồn thơ của chị. “Để rồi sống, rồi yêu, chờ một ngày mặt trời không đến nữa” (Thơ Nguyễn Thúy Quỳnh).

* “Trước bàn thờ Phật”:

Tại sao không cầu xin sự giàu sang vinh hoa phú quý như ngàn vạn người khác thường làm, mà chỉ cầu xin tình yêu ? Và Phật cũng chẳng làm gì được, chỉ cho chị một lời khuyên:

“Đợi ngày bùa ngải không còn thiêng
Con hãy về thảo am học cỏ
Chờ qua xanh rồi đến vàng”

Nghĩa là Phật chỉ khuyên chị biết nhận nhục thấp hèn như cỏ, nhưng cỏ cũng chính là sự bất diệt. Chẳng thể làm gì được chỉ chờ cho thời gian trôi qua mau.

* “Tháng ba”:

Trong tâm hồn đa cảm, buồn thương da diết một điều gì dù là nhỏ nhất gợi nhớ đến tình yêu là làm cho tiếng kêu khắc khoải của tình yêu bật ra khỏi con tim. Trong bài “Ngẫu” NTP “Không viết nổi câu tặng mình”. Tôi nghĩ tất cả thơ NTP trước hết là để tặng mình, viết cho mình, sau nữa mới mong tặng lại cho đời và có tặng được cho đời không thì vẫn còn phải chờ. Theo tôi NTP đã làm được một điều gì đó cho cõi người này bằng chính thơ của chị. Nhưng nỗi đau ở đây là chị đã tặng cho mình quá nhiều những câu thơ cay đắng khi viết về tình yêu. Những câu thơ thổi bùng khát vọng bi thương:

“Bến mê mấy lần vương lưới
Thoát ra rồi lại thấy buồn hơn”

Bị vương lưới là mắc nạn, bị cầm tù sao thoát ra rồi lại thấy buồn hơn ? NTP bao giờ cũng tạo ra được những nghịch cảnh đau đớn trong thơ mình để mà ám ảnh cõi người.

* “Trước Đền thờ Quang Trung Hoàng đế”:

Tính hiện đại trong thơ NTP thể hiện rõ nhất trong những bài thơ văn xuôi, những bài thơ không vần. Tính hiện đại trong cách nhìn về tình yêu. Đối với chị tình yêu là tối thượng, là duy nhất. NTP không đánh giá Quang Trung bằng những chiến công lừng lẫy mà chỉ nhìn nhận Quang Trung ở khía cạnh tình yêu vĩ đại của ông. Ta bắt gặp tứ thơ về cành đào Bắc Hà mà theo NTP đó là kết tinh của tình yêu vĩ đại và bất tử của một vị minh quân hoàng đế – Thi nhân. Ham muốn của NTP về chức năng của người đàn bà ở đây có nhỏ bé đơn giản không ? Theo tôi là không ! Việc được làm vợ một người chồng biết yêu và trân trọng mình là một hạnh phúc lớn lao. Có được tình yêu vĩ đại như của Quang Trung hoàng đế là khát vọng của tất cả đàn bà trên thế gian này. Rồi được sinh hạ những đứa con yêu là kết quả của tình yêu chứ không phải kết quả của sự chiếm đoạt. Nhưng trong đời đã biết bao đứa con được sinh ra chính từ sự chiếm đoạt. Đó là nỗi ám ảnh dày vò tâm hồn NTP. Khát vọng của tình yêu của NTP như cái vòng kim cô, hễ có một dự cảm dù rất mong manh nhỏ bé thì cái vòng kim cô ấy cứ thít chặt tâm hồn NTP đến đau đớn quằn quại. Trước Đền thờ chị khao khát chỉ cần hưởng một phần nhỏ bé hạnh phúc mà Công chúa Ngọc Hân được thụ hưởng. Lúc nào cũng như lúc nào “Nghĩ trong chiều Hà Nội”, “Giấc mơ Đền Cuông”, khi “Nhìn mưa”, một sợi rơm vàng, trước ngôi Đền thiêng, những dự cảm mong manh đó đều làm cho cái vòng kim cô thít bóp con tim NTP.
Liệu Hoàng đế Quang Trung có nghe được lời nguyện cầu này của chị:

“Cúi xin Người lời tự đáy lòng
Cho người bên con – An lành
Cho con đừng tuyệt vọng
Cho hai kẻ sang sông kịp chuyến cuối cùng
Ngoan về nhau – khóc được về nhau”

* “Nhớ bà Huyện Thanh Quan”:

“Có một bài thơ đặt con đèo vào vĩnh hằng”.

Tôi nghĩ ngược lại, chính con đèo ngang lại đặt thơ vào vĩnh hằng. Nói đúng hơn sự tồn tại vĩnh hằng của bà Huyện Thanh Quan được tạo dựng từ trời mây non nước, chim muông và con người của đèo ngang xưa cũ.

* “Lời tạ lỗi”:

Bây giờ mới tạ lỗi dù một ngàn lần, một vạn lần đi chăng nữa cũng để mà chi, kể cả mái tóc mềm nữa cũng để mà chi. Biết người lính đảo năm xưa ấy giờ đây đi đâu về đâu ? Hạnh phúc hay khổ đau, sung sướng hay đói nghèo ở đâu trong cõi người mênh mông sâu thẳm này. 1600 trên 90 triệu con người Việt Nam ? Một xác suất nhỏ bé mong manh biết chừng nào. Liệu người lính đảo ấy có cơ may nào đọc lời tạ lỗi ấy để tha thứ cho thi nhân. Vì sao một người đa cảm, tinh tế lại luôn khát khao, khao khát đến cháy bỏng về tình yêu mà lại thờ ơ vô cảm như thế. Tại sao lại không hiểu được lời cầu xin ấy “Em gội đầu cho chị” và tiếng gọi “em” không hề có ý nghĩa phàm tục mà vô cùng thánh thiện. Chỉ một từ “em” đơn giản vậy mà đã hai năm rồi, hai năm là 730 ngày, cứ thế nhân lên đã biết bao giờ,bao nhiêu phút, bao nhiêu giây, bao nhiêu khoảnh khắc người lính đảo ấy khao khát được gọi “em” một lần. Và cũng chừng ấy thời gian người lính đảo muốn có được cảm nhận, vâng chỉ là cảm nhận thôi về sự mát rượi dịu êm làn da mái tóc người đàn bà. Vô cảm hay thờ ơ, có lẽ cả hai. Giờ ân hận thì đã quá muộn. Nhưng người đọc sẽ cảm thông và trân trọng chị bởi chị vẫn còn kịp nhận ra cái vô cảm đó của mình để mà gửi lời tạ lỗi. Trong cuộc sống xô bồ hiện đại trước sự vô cảm của con người lời tạ lỗi ấy vẫn mang một ý nghĩa nhân văn cao cả. NTP là nhà thơ dũng cảm, dám phơi trải và dám chấp nhận. Không hiểu sau khi gửi lời tạ lỗi NTP có nghĩ đến điều đó, còn tôi sau khi đọc bài thơ tôi lại nghĩ biết đâu người lính đảo ấy đã hy sinh vì một nhiệm vụ hiểm nguy nơi hải đảo tiền tiêu đầy sóng gió hiểm nguy. Nếu vậy… tôi không thể nào viết được nữa…

* “Một đêm ở Quảng trường”:

Trước ngôi đền thờ Quang Trung hoàng đế và bây giờ là Quảng trường Ba Đình bên lăng Bác vẫn là lời cầu xin muôn thuở về tình yêu. Đứng trước lăng Người, NTP chỉ khóc, khóc thương Người và khóc thương phận mình. Một khát khao muôn thuở ấy chỉ riêng cho mình nhưng cũng thật ít ỏi mong manh:

“Con ước một lần
Được im lặng đi bên người ấy
Ở chính nơi đây
Và bước chân chúng con, nhịp tim chúng con
Gieo những nốt nhạc
Có một bản tình ca xanh cỏ, tươi cây, thơm đá dưới chân Người”

Nhưng tất cả những lời cầu xin của NTP gửi cho đức phật, cho hoàng đế Quang Trung và giờ đây cho Người vẫn không bao giờ trở thành hiện thực. Nỗi đau này làm rớm máu tim ta.
Tôi đã đi qua một số bài thơ và để lại một số bài thơ mà tôi chưa cảm nhận được: Những bài thơ thế sự, những bài thơ có chất chính luận và vẫn còn những bài thơ mà tôi chưa thực sự hiểu được thấu đáo. Thơ thì rộng dài sâu thẳm, lời cảm nhận của tôi lại hữu hạn và nông cạn. Dù đã rất nhiều cố gắng nhưng không thể đi đến tận cùng cái rộng dài và sâu thẳm của thơ NTP. Có điều gì đó chưa đồng cảm được với tác giả, với người đọc Nguyễn Xuân Dương tôi chỉ cầu mong hai chữ : Lượng thứ.

Bắc Ninh, mùa thu 2014

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *