logo

CHỊ BỎ MÙA HOA GẠO

Em đứng trên bờ, tiễn chị về phía bên sông
Quay mặt bỏ đi, rẽ lối nào cũng gió
chị ơi, tháng ba…
đường làng mình nở đầy hoa Gạo đỏ
có lẽ, thấy em buồn
hoa khóc… rụng ở triền sông.
Chị ở bên chồng…
Phía ấy có vui không ???
Em nhớ cái rét nàng Bân năm nào
chị cầm tay em
rủ chơi trốn tìm
tránh gió
ngang khóm cỏ gà
em ngắt rồi kết thành chiếc nhẫn chị đeo
bao năm rồi kí ức ấy đem theo
đêm, dày công ủ mầm thương, hạt nhớ
đến cả bây giờ
em vẫn ngây thơ nghĩ:
“Chị với mình
Là chồng… là vợ”
em… trẻ con
đến buồn cười
mà chị thì
chẳng nhớ gì đâu!

Nguyễn Đăng Thanh

LỜI BÌNH

Dù tôi đã có nhiều bình luận những bài thơ viết về chị của Nguyễn Đăng Thanh – Một người CHỊ như trong Lá Diêu Bông của cố thi sỹ Hoàng Cầm hoặc gần hơn là người CHỊ trong Chị ơi tháng Chạp của Nguyễn Ngọc Hưng. Tuy giống nhau ở đề tài nhưng mỗi người có một người Chị rất riêng của mình. Đối với Hoàng Cầm người Chị biết được chàng trai gọi mình bằng Chị lại rất yêu mình mà mình không thể yêu nên đã đưa ra một lời thách đố về cái Lá Diêu Bông đã trở thành huyền thoại và chàng trai đã đi tìm hết cả cuộc đời vẫn không thể thấy. Nhưng nếu có một thứ Lá Diêu Bông thì liệu Chị có nhận nó để yêu chàng ? Còn người Chị của Nguyễn Ngọc Hưng biết được chàng trai yêu mình nhưng vì cách ngăn tuổi tác Chị đã phải trốn chạy tình yêu và cũng có thể vì cuộc mưu sinh khắc nghiệt của cuộc đời. Còn người Chị của Nguyễn Đăng Thanh lại hoàn toàn khác coi chàng trai chỉ là đứa trẻ tuổi vị thành niên dại khớ ngây thơ và trong trắng. Chị không tin đã có một ngọn lửa tình yêu đang bùng cháy trong trái tim của Em.
Bài thơ CHỊ BỎ MÙA HOA GẠO của Nguyễn Đăng Thanh vẫn làm tôi rưng rưng xúc động.
Chị đã BỎ MÙA HOA GẠO để đi về bên sông lấy chồng. Vâng bỏ mùa hoa gạo thôi chứ không phải bỏ em !
Bài thơ được viết bằng nước mắt cho dù hiện tại Nguyễn Đăng Thanh đang ở vào tuổi “Tam thập nhi lập” tuổi mà gió mưa cuộc đời đã kịp vò nhàu đã kịp bầm dập những ước mơ và khát vọng thì nước mắt trong bài thơ vẫn thuộc về nước mắt của trong trẻo dại khờ:

“Em đứng trên bờ, tiễn chị về phía bên sông
Quay mặt bỏ đi, rẽ lối nào cũng gió
chị ơi, tháng ba…
đường làng mình nở đầy hoa Gạo đỏ
có lẽ, thấy em buồn
hoa khóc… rụng ở triền sông”

Em tiễn chị về phía bên sông mà chị chẳng biết lòng em trống trải cô đơn. Không còn chị chở che em quay phía nào cũng gió mưa bão bùng thổi tan nát trái tim em, tan nát tình yêu của em. Sao chị vô tình đến thế? Bông hoa gạo vô tri còn biết em buồn mà khóc rụng đỏ cả một triền sông! Còn Chị ? Rồi một câu hỏi quá dại khờ:

“Chị ở bên chồng…
Phía ấy có vui không ???”

Sao chị ở bên chồng mà không vui? Chị có biết em yêu chị đâu mà chị phải buồn !
Không còn chị nữa chị đã bỏ mùa hoa gạo chị đã bỏ em giờ đây là sông nước cách ngăn, chỉ còn lại trong em những kỷ niệm. Kỷ niệm chồng lên kỷ niệm, nỗi nhớ chồng lên nỗi nhớ:

“Em nhớ cái rét nàng Bân năm nào
chị cầm tay em
rủ chơi trốn tìm
tránh gió”

Chỉ để tránh gió, tránh cái rét Náng Bân thôi. Ta không biết có những lúc tìm thấy chị trong góc nhà trong xó khuất nào đó đứa em đã một lần ú oà ôm chầm lấy chị ?
Đã có một kỷ niệm để biến tình yêu đầu đời dại khờ của Nguyễn Đăng Thanh trở thành bất tử:

“ngang khóm cỏ gà
em ngắt rồi kết thành chiếc nhẫn chị đeo”

Đối với Nguyễn Đăng Thanh đó là chiếc nhẫn cưới của em trao cho chị. Nó quý hơn tất cả những cái nhận dát ngọc, kim cương bạc vàng của thế gian này. Vâng chỉ thế thôi mà:

“bao năm rồi kí ức ấy đem theo
đêm, dày công ủ mầm thương, hạt nhớ
đến cả bây giờ
em vẫn ngây thơ nghĩ:
“Chị với mình
Là chồng… là vợ””

Kỷ niệm đó đã trở thành thiêng liêng nhất của một đời người. Kỷ niệm đó đã ủ mầm thương cho hạt nhớ sinh sôi. Dù cho suốt đời chị không nhớ gì chăng nữa thì với em chúng mình mãi mãi đã là vợ chồng.
Không hiểu sao tôi cứ tin –một niềm tin mạnh liệt khi đọc những bài thơ viết về chị của Nguyễn Đăng Thanh đã có thực một NGƯỜI CHỊ ngự trị trong tâm hồn anh suốt những tháng năm đã qua. Dù cuộc đời đã lắm bão giông, đã nhiều đa đoan dâu bể !!!

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương.
Năm sinh 1940.
Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An.
Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *