logo

ĐẾN VỚI THƠ NGỌC TUYẾT

C ó một nhà thơ phương Tây đã viết “Thơ là sự phi lý. Sự phi lý trong thơ chỉ có nhà thơ và một vài người bạn thân hiểu được”. Đó được coi là một trong rất nhiều định nghĩa nổi tiếng về thơ. Yếu tố phi lý tạo dựng nên thơ – Thứ thơ có sức nặng tâm trạng, sức nặng ám ảnh. Yếu tố phi lý trong thơ sẽ thổi bùng lên ngọn lửa khát vọng thi nhân. Thơ tình Xuân Diệu là điển hình nhất về sự phi lý, đó chính là khát vọng được yêu đương, được tồn tại của nhà thơ.
Đọc thơ Ngọc Tuyết trên Việt Văn Mới tôi cảm nhận được thơ chị chứa đựng rất nhiều yếu tốt phi lý. Nhưng để tiếp cận và giải mã được yếu tố phi lý trong thơ Ngọc Tuyết đối với tôi không hề đơn giản. Trước hết tôi không phải là tác giả, sau nữa tôi không phải là bạn thân của tác giả. Mấy dòng lý lịch trích ngang của chị trên Việt Văn Mới chỉ cung cấp cho tôi nơi sinh và nơi ở của chị. Có chăng là bức ảnh chụp chị đang ngồi nhìn xuống bó hoa trên tay hay chị đang nhìn vào cõi thẳm sâu của lòng mình. Ta không thể biết tất cả chỉ có vậy và những bài thơ có sức nặng tâm trạng, sức nặng ám ảnh.
Mặc dù bạn bè văn chương đã gắn rất nhiều nhãn mác nọ kia vào cái tên của tôi, tôi vẫn luôn tự nghĩ mình chỉ là người yêu thơ, yêu đắm đuối, đến si dại. Đã yêu thơ thì muốn tiếp cận để khám phá, để giải mã, trên hết thảy là muốn tìm sự sẻ chia. Thơ Ngọc Tuyết đã thực sự chinh phục được cảm xúc và trí tuệ của tôi. Có những câu thơ của chị đã thức dậy trong tôi những kỉ niệm của tuổi thơ trên quê hương yêu dấu đượm buồn cũng có những câu thơ dẫn dắt tôi trở lại quãng đường đời đã qua. Tôi tìm thấy sự sẻ chia trong thơ chị mặc dù thơ chị chứa đựng rất nhiều yếu tố phi lý. Dù biết mình tài hèn phận mỏng vẫn cứ khát khao kiếm tìm, khát khao khám phá và muốn được một lần như nhà thơ Xuân Diệu:

“Tôi lặng chuồi theo dòng cảm xúc”

Dù biết rằng miền thơ của Ngọc Tuyết là mênh mang hư ảo và tôi.

“Như thuyền ngư phủ lạc trong sương”

Cứ thế tôi cứ để hồn tôi phiêu lãng trong thơ Ngọc Tuyết.
Ngọc Tuyết thường sử dụng rất nhiều động từ “THỔI”, để đặt tên cho bài thơ và rất nhiều những câu thơ gắn chặt với động từ thổi đó.

“THỔI”

là bài thơ có sức nặng tâm trạng nó đã dội mạnh vào cõi sâu thẳm của hồn tôi, ám ảnh tôi có lẽ sẽ đến trọn đời.

“Mẹ thổi nồi cơm chứa nhớ thương”

Câu thơ đã đưa tôi về với tuổi thơ, nhớ về bát cơm độn khoai, độn sắn mà mẹ phải lam lũ tảo tần mới có được. Mỗi hạt gạo, củ khoai đều thắm đẫm nước mắt mồ hôi của mẹ. Mẹ đã thổi bao nhiêu nồi cơm “Chứa nhớ thương” như thế trong suốt cả cuộc đời của mẹ để nuôi những đứa con khôn lớn thành người. Để rồi như nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng ở Nghĩa Hành đã viết trong bài “Dì tôi”

“Các em đủ lông đủ cánh
Mỗi người tìm một đường bay
Giờ tổ chim xưa trơ trọi
Hắt hiu dì đến tháng ngày”

Một đất nước với hai cuộc chiến tranh gần nhất cũng đã đến 30 năm có lẻ, một đất nước mà mỗi con người muốn lớn lên, muốn tự khẳng định mình đều phải rời bỏ nơi quê hương cắt rốn thì không riêng gì người dì của Nguyễn Ngọc Hưng mà là hoàn cảnh của tất cả người mẹ Việt Nam trong đó có cả mẹ của Ngọc Tuyết và tôi.
Rồi Ngọc Tuyết bỏ qua những quy luật vận động của tự nhiên của vũ trụ, chị đã đưa ra những lý giải rất phi lý của riêng mình.

“Câu hò thổi gió chạm tơ vương
Ca dao thổi nước về bên nớ”

Đối với Ngọc Tuyết gió không phải là hiện tượng đối lưu của không khí mà nó được tạo dựng bằng sức mạnh của những câu hò. Trên mọi miền đất nước không nơi đâu không có những câu hò. Những câu hò chở nặng tình thương, chở nặng tình yêu gái trai, tình yêu cuộc đời. Những câu hò cố kết tình yêu thương và hòa hợp cộng đồng để sống để tồn tại. Chính sức mạnh của câu hò tạo nên gió và làn gió ấy đã chạm vào sợi tơ vương đang rung động trong tâm hồn Ngọc Tuyết, đang rung động trong tâm hồn của tất cả chúng ta.
Đối với chị sự bồi lở của đôi bờ con sông không phải là quy luật vận động của chất lỏng, của nước là từ cao đến thấp mà sự đổi dời bồi lở của dòng sông lại do câu ca dao của cha ông. Phải chăng Ngọc Tuyết quá cô đơn đã cảm nhận như tất cả con người, thiên nhiên vũ trụ này đang muốn rời xa chị. Đó là điều mà Ngọc Tuyết muốn gửi gắm qua thơ mình.
Hai câu thơ của Ngọc Tuyết đã dạt dào tuôn chảy trong lòng tôi con sông Lam hiền hòa thơ mộng, con sông đẹp nhất của hồn tôi, của đời tôi. Trên dòng sông Lam cứ mỗi lúc đêm về lại văng vẳng tiếng hò ví dặm buồn buồn man mác nói về sự đa đoan dâu bể của phận người:

“Chứ ai biết nước sông Lam răng là trong răng là đục
Chứ biết cuộc đời răng là nhục răng là vinh
Thuyền em lên thác xuống ghềnh
Nước non là ngãi là tình ai ơi”

Dù dâu bể đa đoan thì người dân quê tôi và tất cả người dân đất Việt đều lấy cái nhân cái nghĩa cái tình làm nguồn cội để kết nối non sông đất nước này. Sông Lam quê tôi và những con sông của quê hương Ngọc Tuyết vẫn vậy vẫn một dòng trôi chảy về xuôi rồi ra biển cả nhưng với Ngọc Tuyết thì nó không như thế chị cảm thấy câu ca dao cứ đẩy dòng sông của chị xa mãi, xa mãi về bên nớ, về nơi vô cùng để lại mình Ngọc Tuyết đứng chơ vơ trên bờ ảo vọng. Chị không biết làm gì và đành phải nhờ đến một sức mạnh siêu nhiên nào đó.

“Xin thổi dùm tôi đến cố hương”

Câu thơ thực sự làm tôi trào nước mắt. Cái mong manh của phận người đã đi đến tận cùng vậy sao. Chỉ có việc mua vé lên xe, lên tàu, hoặc nữa là lên máy bay là có thể trở về cố hương mà Ngọc Tuyết không thể làm được. Chắc chắn rằng Ngọc Tuyết không ở vào hoàn cảnh như vạn ngàn những người công nhân trong các nhà máy và xí nghiệp hiện đại, trong các công ty kếch sù mà lương tháng chỉ đủ để vặt mũi đút miệng. Cứ mỗi khi năm hết tết đến muốn về quê phải nhờ vào những đồng trợ cấp tiền tàu xe của xã hội. Vậy sao Ngọc Tuyết lại phải mượn sức mạnh siêu nhiên nào đó để thổi mình dạt về cố hương. Vừa phi lý vừa chua cay mặn chát. Chị buông thả hay chị bất lực tuyệt vọng – đó là phận người. Tôi lại nghĩ về tôi dù đã bao năm rồi chưa một lần về thăm chốn cũ vì quê hương giờ đây cũng chẳng còn bạn bè thân thích, anh em ruột thịt họ hàng mỗi người một phương trời. Giờ muốn về quê thắp nén hương lên phần mộ tổ tiên ông bà, cha mẹ thì đã chân chậm mắt mờ không những thế còn có cả sự mặc cảm như nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh đã viết:

“Muốn về rừng núi mờ sương
Sợ đi biệt xứ núi rừng quên ta
Bấy lâu uống nước phù hoa
Ăn cơm kẻ chợ ta là ai đây
Bây giờ dở Khách dở Tây
Thả đêm chẳng mắc, thả ngày chẳng chôi”

Và còn bao nhiêu điều ràng buộc nữa làm cho người ta phải lo lắng ngại ngùng. Đời là thế. Đọc câu thơ của Ngọc Tuyết ta lại nghĩ về biết bao dâu bể đa đoàn của phận người. Con người ta không phải lúc nào cũng làm chủ được hoàn cảnh của mình, không định đoạt được số phận mình. Ngọc Tuyết đã nhờ đến sức mạnh của siêu nhiên, còn tôi thì chẳng trông cậy vào đâu. Nhưng thực ra sức mạnh siêu nhiên ấy cũng thờ ơ vô cảm như cõi người trong thời hiện đại không giúp được gì cho Ngọc Tuyết, chị đành “Tôi thổi tôi” thật là phi lý vì chắc chắn ở đây Ngọc Tuyết không thể thực hiện được một sự vận động cơ học để mình tự thổi mình qua đồi, qua phố… Tôi cứ đưa ra một sự cảm nhận của riêng mình về bài thơ này, có thể đồng cảm với tác giả, với người đọc và có thể cảm thông. Trong con người ta luôn tồn tại trong 2 cái tôi. 1 cái tôi của cái Thiện, cái Mỹ, một cái tôi của cái ác, cái xấu luôn đấu tranh với nhau. Trong cuộc đấu tranh dai dẳng ấy nếu cái Thiện, cái Mỹ thắng thế thì người ta trở thành lương thiện, thánh nhân. Nếu cái ác, cái xấu thắng thế thì người ta trở thành bạo chúa, tội đồ. Phải chăng Ngọc Tuyết muốn thổi bay cái tôi, cái ác, cái xấu ra khỏi con người mình để trở thành lương thiện, thánh nhân. Đó là một lẽ. Một lẽ nữa là chị không thể vận động cơ học của thể xác, chị đã phải thực hiện một cuộc vận động của cảm xúc, của trí tuệ qua không gian và qua thời gian để cảm nhận thật đủ đầy cả những yêu thương hạnh phúc, cả điều được mất của thế gian cõi người. Qua phố để cảm nhận “chút ngậm ngùi nắng rơi” qua đồi để nghe được bản dương cầm của không gian Đà Lạt, để cảm nắng gió của thời hiện đại cũng đã có cái gì đó xao xác và rồi cuối cùng Ngọc Tuyết lại đẩy cái tôi của mình đi vào tuyệt vọng:

“Tôi thổi tôi qua sương
Những mặt đường như khói
Ngấm vào nhau đau nhói
Phố núi nhòa yêu thương”

Và đành phải “Tôi thổi tôi qua tôi” để quên đi tất cả hay để tự làm mới mình.
Thơ tứ tuyệt của Ngọc Tuyết trên Việt Văn Mới không nhiều, chỉ có 3 bài, có nghĩa là 84 từ mà chứa đựng bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu rung động cảm xúc, chỉ có 84 từ mà để lại trong tôi những dư ba thăm thẳm rồi cứ thế sẽ song hành cùng tôi cho đến trọn đời.
Bài tứ tuyệt “Sang mùa” gây cho tôi một sự băn khoăn vì cái tên của nó. Thơ chị có hai bài tên là “Sang mùa”. Ở bài thơ tứ tuyệt này có thể do nhầm lẫn vì nó không có ý, tứ của sang mùa. Có lẽ tên của nó là “Vô tình” nhưng tôi không cảm nhận về cái tên mà là câu chữ trong đó. Mỗi câu thơ có một sự vô tình hoàn toàn độc lập nhưng lại gắn kết chặt chẽ với nhau để nói được đủ đầy nhất sự vô tình của thế gian, của vũ trụ. Tất cả chỉ là vô tình chứ không phải là cố ý. Nhưng vô tình ở đây phải hiểu theo nghĩa nào. Vô tình thuộc về phạm trù mang tính ngẫu nhiên, mang tính tình cờ hay vô tình ở đây lại là thuộc về phạm trù vô tình có ý thức, có chủ định – vô tình là thờ ơ vô cảm. Tôi nghĩ vô tình ở đây thuộc về sự thờ ơ vô cảm.

“Nắng vô tình đốt vàng khô mái tóc”

Ta chấp nhận sự vô tình này vì đó là thực tế phũ phàng. Sự vô tình của nắng đã làm hư hại vẻ đẹp con người, cái răng cái tóc là vóc con người mà nỡ nào nắng lại vô tình đến thế. Đừng đốt nữa nắng ơi, đừng làm cho mái tóc thi nhân khô vàng thêm nữa vì có lẽ mái tóc đó giờ đây đã pha màu sương khói.

“Gió vô tình nhiễu động một bờ môi”

Một bờ môi mà phải chờ đến sự nhiễu động vô tình của gió thì bờ môi này mới khô khát mới lạnh lẽo biết chừng nào. Chỉ là làn gió mà nỗi khát thèm yêu đương, khát thèm được dâng hiến bờ môi trỗi dậy mãnh liệt trong lòng thi nhân. Chắc bờ môi ấy cứ run rẩy đợi chờ khi làn gió vô tình thoáng qua. Nỗi cô đơn ở đây đi đến tận cùng. Một dự cảm xót đau về sự chiếm đoạt bờ môi lại là gió chứ không phải là của người yêu. Vẫn chưa hết.

“Mưa vô tình xối hạt buồn lên mắt”

Đây là điều có thể, mưa có thể làm nhòa đi tất cả kể cả đôi mắt buồn. Nhưng sao Ngọc Tuyết lại cảm nhận được hạt mưa ấy ẩn chứa nỗi buồn. Mưa vô tình xối hạt buồn lên mắt hay đây chính là dòng lệ mà thi nhân tự khóc mình đang ràn rũa chảy khi nỗi cô đơn đang bao trùm lên tất cả. Bài thơ cứ thế đẩy dần lên đến cao chào.

“Ai vô tình nội trú góc hồn tôi”

Nỗi trú trong góc hồn của người thiếu phụ mà cứ vô tình thì sự vô tình ở đây cũng đã đi đến tận cùng. Người chiếm đoạt vô tình thì có thể hiểu. Nhưng Ngọc Tuyết cũng vô tình đến vậy sao để đến nỗi không cảm nhận được sự vô tình của ai đó sẽ trở thành cái hữu tình, sự dâng hiến và đáp đền, sự đợi mong của người thiếu phụ. Bài thơ khép lại rồi nhưng trong tôi cứ mênh mênh, mang mang một điều gì đó về sự vô tình của vũ trụ của cõi người. Xin tất cả hãy vì nhau đừng vô tình như thế để nhà thơ có chỗ nương náu tâm hồn mình.
Thơ ca thường mang đến cho tôi sự sẻ chia kỳ diệu, nhất là được đọc những bài thơ viết về mẹ của các nhà thơ tài hoa, đích thực. Dù mỗi nhà thơ viết về mẹ mình rất riêng biệt nhưng lúc nào tôi cũng cảm nhận có bóng dáng của mẹ mình đồng hiện trong thơ họ.

Mẹ

“Thả nghìn tiếng thở mơ đêm
Thả mồ hôi mặn tắm em trắng ngần
Thả bao gian khó nhọc nhằn
Mà sao mắt mẹ vẫn hằn niềm vui”

Ở đây Ngọc Tuyết đã dùng động từ “Thả” có nghĩa là nhẹ nhàng thanh thản vì mẹ hiểu rằng việc làm của mẹ dồn tất cả tình thương yêu để đùm bọc những đứa con, đùm bọc cõi người. Mẹ hy sinh tất cả không phải để nhận về mình sự đáp đền, sự báo hiếu sau này của những đứa con mà trên hết thảy là mẹ nuôi nấng những đứa con nuôi nấng kiếp người. Có thể vì thế mà Ngọc Tuyết đã dùng chữ “Hằn” ở đây. “Hằn niềm vui”. Vâng những niềm vui đã hằn sâu trong mắt mẹ. Vết hằn đó còn mãi bất chấp sự khắc nghiệt phôi pha của thời gian. Niềm vui ấy không bao giờ phai mờ nó sẽ song hành với mẹ cho đến trọn đời.
Tôi không có sự may mắn là được biết Ngọc Tuyết. Mấy dòng trích ngang trên Việt Văn Mới chẳng thể nói được điều gì về thân phận của thi nhân ngoài bức hình hơi nhìn xuống của chị. Hình như chị đang muốn nhìn vào cõi thẳm sâu của lòng mình để rồi từ đó sẽ bùng lên những vần thơ mà chị sẽ gửi gắm cho cõi người. Tôi không hiểu vì sao thơ Ngọc Tuyết lại cô đơn đến thế mặc dù chị luôn luôn dùng đại từ “Em” để trao gửi. Nhưng không phải là trao gửi cho anh mà chỉ là sự trao gửi cho tất cả những ai vô tình hay cố ý đọc thơ của chị. Có thể vì Ngọc Tuyết là đàn bà nên cứ xưng em vậy thôi. Chỉ một lần duy nhất trong bài thơ “Duy nhất” chị có nhắc đến anh qua đoạn thơ:

“Em một mình
Bước mãi với niềm đau
Có một điều
Em chưa nói với anh
Tình yêu ấy giành cho anh là có thật
Dẫu em chết
Tình yêu kia vẫn sống
Bởi tình kia
Là duy nhất của riêng em”

Ngọc Tuyết có những câu thơ câu chữ thật đẹp, thật tinh tế nhưng ẩn sâu trong đó vẫn là những nỗi buồn không cánh. Vì sao một thiếu phụ kiêu sa như thế mà chiều 30 tết phải “Sắm cười” rồi chờ sang xuân để bán cho thế gian kiếm lời. Phải chăng cuộc đời này đã tắt hẳn tiếng cười, hay nụ cười không tồn tại trên môi người thiếu phụ.
Thơ Ngọc Tuyết là thứ thơ được chắt ra từ nội tâm của chị vì vậy nó luôn ẩn chứa sức nặng tâm trạng, sức nặng ám ảnh. Một thiếu phụ trông vẫn tươi trẻ thế mà.

“Bảy năm rồi em không may áo mới”

Không may áo mới vì không tiền hay vì may áo mới biết để làm duyên cho ai. Người đàn bà yêu chồng chỉ làm duyên cho chồng mình. Vắng anh, không anh em biết làm duyên cho ai mà may áo mới. Câu thơ như vô tình mà chứa đựng niềm đau, bời vì đất trời cứ thôi thúc cứ khát khao.

“Dẫu mùa xuân nhức nhối khát khao”

Sự khát khao ở đây lại được nối với hai từ nhức nhối có nghĩa là sự khát khao này lại làm nhức nhối con tim Ngọc Tuyết.
Thi nhân mượn cảnh để nói về lòng mình, ta thấy có một người thiếu phụ đang bơ vơ giữa.

“Trời mưa bụi gió xạc xào quét lá”

Không thể may áo mới, không có ai chia sẻ thế là Ngọc Tuyết đành chơi ngông như thơ chị đã viết.

“Chữ nghĩa khờ nhưng ngông”

Sẵn có lá khô vàng và cũng rất sẵn những buồn vui Ngọc Tuyết đã làm một việc không thể ngông hơn được nữa.

“Gom buồn vui nhóm lửa đốt ngọt ngào”

Chị đã đốt hết không chỉ nỗi buồn mà cả niềm vui không phải là để đổi lấy sự ngọt ngào. Ngọt ngào ở đây là không thương tiếc không quyến luyến mà rất sẵn lòng. Đốt hết, đốt không còn gì có thể lưu giữ, không còn gì để buồn và cũng không còn gì để vui.
Trước ngưỡng cửa của mùa xuân mà sao thi nhân cứ trống vắng, khi đất trời cỏ cây phố xá tràn đầy nhựa sống.

“Cây nẩy mầm giọt phố khẽ khàng mưa”

Đất trời là thế, phố phương là thế sao chỉ mình em

“Chiều cuối năm em lựa chùm lục bát
Ngồi nhâm nhi ngọt – đắng – mặn – nồng – cay”

Không biết nhâm nhi cái gì, nhâm nhi cùng ai Ngọc Tuyết đã vịn vào câu lục bát mà đứng dậy mà sống mà cảm nhận hết tất cả những dư vị của cuộc đời rồi hoàn toàn chìm vào vô thức để đến nỗi mình không thể tự nhận ra mình.

“Mặc áo hoa vàng hái lộc – tưởng ai”

Mình đi hái lộc một mình, mình không biết mình là ai thì sự vô thức đã đến tận cùng. Bài thơ khép lại rồi mà ta vẫn thấy bóng áo hoa vàng đi hái lộc trong đêm giao thừa nhạt nhòa mưa bụi.
Thơ Ngọc Tuyết trên Việt Văn Mới không nhiều nhưng chừng ấy thôi cũng để ta cùng chị.

“Ngồi nhâm nhi ngọt – đắng – mặn – nồng – cay”

Những dư vị của cuộc đời.
Dù rất muốn đi đến tận cùng thơ Ngọc Tuyết nhưng con đường dang dở vẫn là con đường hay nhất, một con đường chờ sự khám phá. Tất cả đều phải có giới hạn và sự giới hạn nhiều khi lại giúp ta tồn tại. Cũng chưa thể hẹn trước nhưng biết đâu rồi có ngày tôi sẽ trở lại với những bài thơ cô đơn của chị.
Cuối cùng xin chúc nhà thơ dạt dào sức sáng tạo để có những bài thơ dám phơi trải với cuộc đời như nhà thơ Trần Nhuận Minh đã viết.

“Những câu thơ gan ruột
Phơi ra giữa trời mây”

Và cũng như nhà thơ Trần Nhuận Minh đã khát vọng.

“Câu thơ như mảnh hồn người
Chắt chiu mưa nắng một thời cho nhau”

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *