logo

ĐỌC : HƯƠNG HOA MỘC THƠ VŨ THIÊN KHÁI

“ Anh chẳng muốn già
Em đừng bạc tóc
Hạnh phúc chúng mình
Cùng hương mộc trường sinh”

Đó là khát vọng về tình yêu vĩnh hằng của Vũ Thiện Khái. Khát vọng đó lấp đầy trong “Hương hoa mộc” và còn cả trong tâm hồn Vũ THiện Khái khi ta biết rằng ông đã ở tuổi U80.
Ông đã viết trong bài CỎ–Bài thơ mở đầu cho Hương hoa mộc như đánh thức trong ta một cách nhìn thật chính xác, đủ đầy tâm thế thi nhân, tâm thế làm người của Vũ Thiện Khái. Dù biết rằng đời cỏ luôn gặp nhiều bất trắc:

“Que diêm cũng đủ cháy bùng
Bén xuân lại biếc một vùng cỏ hoang”

Chỉ một que diêm cũng có thể thiêu đốt cả một thảo nguyên bao la rồi cỏ vẫn bừng bừng sức sống nhân hậu, thủy chung với người:

“Rễ sâu bám chặt xóm làng
Lá dang tay ấm ôm choàng đất đai”

Đó là lẽ sinh tồn của cỏ và lạ thay cỏ của Vũ Thiện Khái cũng có hồn người. Biết yêu thương và biết nhận diện những điều thiện ác trong cõi người để mà yêu, mà ghét mà biết lẽ sống như… Cỏ

“Có người cỏ xiết vòng gai
Có người cỏ kết tượng đài ghi công”

Qua bao tai họa bất trắc, qua bao cuộc binh đao máu lửa cỏ vẫn khẳng định sự bất tử của mình:

“Bao phen dưới vó ngựa lồng
Giặc tan cỏ lại mướt đồng mà xanh”

Đó là khát vọng thi ca, khát vọng sống mà Vũ Thiện Khái muốn gửi gắm vào trong HƯƠNG HOA MỘC.
Thơ Vũ Thiện Khái không ám ảnh, không nặng nề tâm trạng vì ông luôn rọi soi cuộc đời này dưới một lăng kính nhân hậu của riêng mình. Thơ ông chỉ ám ảnh và nhiều tâm trạng khi viết về đề tài chiến tranh.
HƯƠNG HOA MỘC với hơn 100 bài thơ, mà bài nào cũng đáng đọc và để cho ta bình luận. Cổ nhân đã có câu: “Bàn về một bài thơ hay một suối sách vẫn không đủ”. Vì vậy tôi chỉ như người cưỡi ngựa xem hoa lướt trong vườn hoa muôn màu muôn sắc của Hương hoa mộc chọn tình cờ những bài thơ, câu thơ tôi yêu thích để gửi gắm vào đây khi thì nỗi buồn đau nhân thế, khi cháy bùng lên ngọn lửa tin yêu cuộc đời. Cứ thế tôi lãng du trên cánh đồng thơ mà Vũ Thiện Khái đã gieo trồng.
Trước đây tôi đã gặp trong văn xuôi và giờ đây gặp trong thơ của Vũ Thiện Khái viết về đề tài chiến tranh, viết về những anh hùng, chiến sỹ đã ngã xuống ngoài mặt trận bao giờ cũng như được viết ra từ trong cõi thẳm sâu của tâm linh, những vần thơ như được viết ra từ máu của con tim chứa đầy nỗi đau và cứ thế để lại trong ta một nỗi đau muôn thuở.
Ai đó có thể cứ hô hào “Khép lại quá khứ” vì họ có phải chịu đựng sự hy sinh mất mát lớn lao gì đâu. Sự mất mát đó thuộc về nhân dân–những đứa con, người vợ, người mẹ thì làm sao có thể khép lại quá khứ khi vẫn còn đó bao hài cốt của các anh hùng liệt sỹ còn nằm đâu đó trên khắp mọi miền đất nước. Chính vì lẽ đó khi viết về nỗi đau chiến tranh thơ Vũ Thiện Khái như vò xé trái tim ta đến rớm máu Ở đâu đó có thể khép lại quá khứ còn trong thi ca thì không. Nếu khép lại ta là những người có tội.
Không thể đoán định những người đã ngã xuống đang nằm nên nhà thơ cứ luôn phải nhắc nhở.

“Nhẹ thôi nhè nhẹ bước thôi
Biết đâu chỗ ấy anh tôi đang nằm”

Bao nhiêu lần tìm kiêm vẫn bặt vô âm tín vì thế mỗi lần đi tìm vẫn về không và người mẹ ở nhà cứ đón đợi, đón đợi mãi.

“Mẹ tôi chiều muộn rưng rưng
Mắt đăm đắm nẻo lưng chừng mây bay”

Đó là người mẹ, còn người vợ trẻ chờ chồng. Chờ chồng mà không thể hóa đá như vọng phu, Tô Thị. Hóa đá được sẽ không còn nỗi đau. Không hóa đá thị nỗi đau đi trọn kiếp người.

“Chị dâu ở vậy suốt đời
Thờ chồng tóc bạc như vôi lúc nào”

Cảm thức về thời gian của những người chờ chồng đợi con là không có giới hạn. Tóc bạc như vôi mà không biết mình tóc bạc cứ nghĩ mình còn trẻ để có thể chờ, chờ mãi theo thơì gian cho trọn tình người.
Và đây nữa sự đợi chờ của người mẹ đã được đẩy cao hơn. Chỉ có những người mẹ–người dân là mất mát thương đau đến tận cùng:

“Thế hệ chúng tôi có những người bà
Hai con liệt sỹ
Còn một con gửi nốt chiến trường
Ngày nước non toàn thắng
Bên rặng rào găng
Mái sương phơ phất
Tay run chống gậy
Mắt rưng rưng ngấn lệ
Nghe nôn nao hàng xóm đón con về”

Có hai con liệt sỹ, nhưng chiến tranh vẫn còn… Còn đứa con duy nhất mẹ lại gửi nốt ở chiến trường. Đất nước toàn thắng rồi chỉ còn mẹ mái tóc phơ phất tay run run chống gậy bên rặng rào găng thổn thức. Chẳng có ai nâng dắt an ủi mẹ lúc này. Nỗi đau đã được Vũ Thiện Khái đẩy nó đi đến tận cùng. Đó chính là tượng đài bất tử của những người mẹ mất mat khổ đau mà Vũ Thiện Khái đã tạo dựng lên trong thế giới thi ca bằng thứ ngôn ngữ đầy ma lực ám ảnh. Và đây nữa cũng là những tượng đài như thế về những người vợ, người yêu:

“Thế hệ chúng tôi có bao nhiêu người vợ
Một đời thờ chồng
Một đời thấp thỏm
Nghe tiếng sấm xa cũng giật thót mình
Đêm trắng âm thầm cầu nguyện
Bước Trừng Sơn chân cứng đá mềm”

Hạnh phúc không thể đến với những người phụ nữ, một lẽ tự nhiên mà tạo hóa đẫ ban tặng cho con người. Ba từ “VỢ LIỆT SỸ” không đem lại hạnh phúc cho họ mà chỉ nhắc họ nhớ đến nỗi đau của đời mình. Chiến tranh đã tước đoạt của họ tất cả. Đêm đêm nằm nghe tiếng sấm xa dỗi về cũng giật mình thon thót tưởng rằng tiếng đạn bom từ phía người ra đi.
Có những vùng đất thiêng trên ngút ngàn cao nguyên mà ở đó Vũ Thiện Khái vẫn còn đang nhìn thấy:

“Trước mắt tôi
Một bóng người
Hai bóng người
Ba bóng người
… Áo xanh
Mong manh ảo mờ”

Áo xanh đã cho ta hiểu đó là những người lính đã nằm mãi. ở vùng đất thiêng này. Các anh cứ đâu đó tồn tại theo thời gian trong tâm thức của Vũ Thiện Khái và tồn tại nỗi đau cho vùng đất này. Đến nỗi cỏ cây ở đây cũng đang rỏ máu để khóc người:

“Vây bước chân tôi
Một bụi cỏ
Hai bụi cỏ
Ba bụi cỏ …
Lá xanh quằn quặn
Rập rờn
Bước chân đi
Xa hút
Tiếng ai gọi: Mẹ
Vọng về”

Những linh hồn nơi đây không một khắc nào không nhớ về mẹ. Vì khi ra đi họ vòn trẻ lắm vừa rời xa vòng tay người mẹ. Tiếng gọi duy nhất trước khi ngã xuống là tiếng gọi MẸ. Tiếng vọng ấy không chỉ vang vọng đến bây giờ trong tai Vũ Thiện Khái mà còn vang vọng đến muôn sau. Những cây cao su đang dâng nhựa cho đời và trong dòng nhựa đó có cả máu của các anh giờ cứ tong tong chảy vào những chậu sành không đáy:

“Thân ầng ậng mủ
Vú mẹ căng tròn
Rơi
Long tong
Đong
Đầy những chậu sành
Không đáy”

Tôi xin giới thiệu trọn vẹn hai bài thơ viết về nỗi đau chiến tranh của Vũ Thiện Khái để các bạn hiểu thêm một hồn thơ luôn đau đáu về đề tài chiến tranh. Tôi xin phép không bình luận.

LÒNG TA MƯA THẤM

“Thấp thỏm nghe tin báo bão
Nhà em ai chằng chống cho
Một thân một mình lọ mọ
Bão về đâu chỉ ngoài quê
Nửa đêm lòng ta mưa thấm
Thương em ngày tháng lặng thầm
Năm mấy lần thăm mộ ảo
Một em một đóa vàng sao
Một lứa chim mùa giông tố
Lao đao mấy nẻo chân trời
Một ngày rừng im bể lặng
Đường về cánh mỏi xa khơi
Đứa mất chẳng bao giờ khuất
Đứa còn còn gánh lo âu
Chống gậy nhớ nhau ứa lệ
Ngẩng trông mây trắng qua đầu”

Hệ lũy của chiến tranh vẫn còn mãi với thời gian cho cả những người đã ngã xuống và còn cho cả những người đang sống:

TÔI TIỄN MÙA THU

Đưa tiễn mùa thu
Tiếng chim gù
Thong thả đếm
Cúc…cù ..cu
Tháng ngày rơi
Giọt giọt
Tôi tiễn mùa thu
Mấy sợi râu tóc bạc
Nhẹ nhẹ bay
Về nẻo bạn tôi nằm
Nửa thế kỷ bạn tan vào đất
Bây giờ
Chỗ ấy bạt ngàn lau
Chỗ ấy ngập tràn sương trắng
Mùa thu không nỡ bỏ đi
Để bạn một mình
Chỗ ấy
Ngàn năm sau
Còn rập rờn lau
Còn thổn thức sương thu
Ấp ủ
Còn xao xác gió thu
Dịu dàng hát ru .

Vâng chỉ còn lại cỏ lau và mùa thu là còn nhớ đến người đẫ thấm máu và ngã xuống nơi đây. Còn con người??? Vì họ đã khếp lại quá khứ để hướng tới tương lai.
Dù đã U80 mà thơ Vũ Thiện Khái cứ mong manh hư ảo. Tôi có cảm giác rằng chỉ cần đụng nhẹ vào thơ ông là nó sẽ tan chảy. Nhưng không phải như thế cái mong manh hư ảo ấy nếu ta biết nâng niu, biết rọi soi nó sẽ lan tỏa trong thăm thẳm tâm hồn ta. Mang đến cho ta khi hiu hiu nhẹ một sợi buồn, khi tươi vui ấm áp tình đời. Vũ Thiện Khái có một tâm hồn rất thính nhạy. Hình như nó là muôn ngàn những sợi tơ mỏng manh hệ chạm đên là nó lại rung lên những vần thơ đắm đuối mê say làm mê đắm lòng người.
Một buổi sáng giao mùa mà hai thái cực đông, xuân đã thức dậy trong ông bừng bừng sức trẻ thanh tân đến kì diệu:

“Vẫn là em
Dạo phố mỗi ngay
Lạ nhỉ
Sáng nay
Bỗng nhiên tiên nữ”

Phải chăng thiên nhiên đã biến đổi con người ta như thế Chắc không phải như thế mà đó chính là sự rung cảm của tâm hồn khi khoảnh khắc giao mùa chợt đến. Bên kia khoảnh khắc là mùa đông giá rét, úa tàn, bên này khoảnh khắc là mùa xuân ấm áp tươi xanh:

“Vẫn là tôi
Trước ngõ mỗi ngày
Ô hay
Sáng nay
Bồn chồn
Tượng gỗ”

Lòng thi nhân đã nao nao trước cái úa tàn của mùa đông và trước cái tươi mới của mùa xuân:

“Tờ lịch cuối năm
Chiếc lá đông cuối cùng
Vừa rụng
Mùa xuân chiếm chỗ tức thì
Lạ nhỉ”

Để lí giải cho được yếu tố hư ảo, phi lí trong thơ nói chung và thơ Vũ Thiện Khài nói riêng là không hề đơn giản. Tôi nghĩ phải có những công trình nghiên cứu về trường ngôn ngữ để sáng taọ ra yếu tố hư ảo phi lí. Cái hư ảo phi lí thường giúp thi nhân gửi gắm khát vọng. Nói khác đi yếu tố hư ảo, phi lí được cấu thành từ khát vọng từ trí tưởng tượng đã giống như sự vô biên của vũ trụ. Thơ hư ảo phi lí lại rất dễ lan tỏa và thẩm thấu trong lòng người đọc. Nhưng nhiều khi ta không thực sự hiểu thấu đáo ngọn ngành mà vẫn cứ bắt ta công nhận vẻ đẹp của thơ:

“Đúng hẹn em về nơi hẹn cũ
Một mình mơ lại giấc mơ xưa
Một lần lòng thử thôi nhung nhớ
Giật thót tim nghiêng phía chẳng ngờ”

Rõ ràng nhân vật trữ tình là em hay trong đó còn một nhân vật trữ tình thứ hai vào đó nữa. Sao thi nhân biết được được em đã về nơi hẹn cũ khi chính thi nhân không hiện hữu, làm sao biết được em đang mơ và lại là giấc mơ xưa. Ai đang tự nhủ thôi nhung nhớ và tim ai đang nghiêng về phía chẳng ngờ. Nếu cứ đưa ra những câu hỏi như thế chăng còn thi ca nữa. Ta biết nó phi lí thế mà ta lại cứ đẻ những câu thơ như thế lan tỏa, thẩm thấu vào trong ta và chính ta cũng đang tạo ra yếu tố phi lí trong cách cảm cách nghĩ hư ảo và phi lí trong chinh tâm hồn mình. Ta không thực sự hiểu và ta cũng không tìm cách lí giải mà vẫn cảm thấy vẻ đẹp và điều hay, vẫn cảm nhận có một phần tâm hồn mình ở trong đó. Đó chính là sự kì diệu của thi ca.
TIẾNG VE cũng là một bài thơ nhiều hư ảo. Mỗi cung bậc của tiếng ve đều gắn kết vời những tín hiệu về thời gian và săc màu xung quanh:

“Ve non
Khẽ gọi
Tháng ba
Mỏng tang nắng lụa
Là đà
Đường quê”

Rồi cứ thế:

“Tháng tư
Ào ạt dội về
Trưa xanh canh vắng
Bốn bề
Tiếng ve”

Khi đã sang tháng tư thì tiếng ve dóng dả suốt đêm ngày vào trưa vắng và còn vào canh khuya như nhắc nhở con người rằng mùa hè đã tới. Thêm nữa tiếng ve lại ùa về trong ta bao kỉ niệm vui buồn lẫn lộn của tuổi thơ ta những mùa hè của chia xa li biệt:

“Tháng năm
Lửa phượng lập lòe
Soi trang lưu bút
Ướt nhòe mắt nai”

Và cuối cùng là nỗi nhớ dâng đầy trong thi nhân:

Vacances * xưa
Chẳn hề phai
Bâng khuâng
Nhunh Nhớ
U hoài
Hồn ve”

(* những mùa hè xưa )

Một bài thơ nữa cũng đẫm chất hư ảo. Chất hư ảo ở đây thấm đẫm nỗi buồn làm da diết hồn ta. Cứ lần lượt những thi ảnh gắn chặt với một kiếp người:

“Một người đi nữa
Không về
Bờ đê nở tím
Bông thề cỏ hoang”

Bông thề cỏ hoang có phải là bông hoa mà trước lúc chia tay đôi lứa ấy đã từng coi nó là tiên tri cho tình yêu đầu của họ. Cứ thế bông thề cỏ hoang ấy đã trở thành vật chứng: Một yêu, hai không yêu .. cứ thế cho đến cánh hoa cuối cùng rơi vao chữ nào nhiều khi người con trai thường ma mãnh làm sao cho cánh hoa cuối cùng rơi đúng chử YÊU nhưng không phải vì thế mà cưỡng được số phận và có người đã đi mãi không về:

“Một người
Đợi
Mỗi thu sang
Xé tà áo lụa
Thấm
Hàng lệ sa”

Vâng anh hẹn mùa thu sẽ về, nhưng mùa thu rồi lại mùa thu anh vẫn không về em cứ chờ cứ đợi. Nước mắt em đã thấm ướt bao chiếc khăn em cất vào để sẽ là vật chứng của tình yêu khi anh trở lại. Giờ đây còn lại cái áo lụa em mặc để đón anh về em dã phải xé nốt mà lau khô giọt lệ đời mình.
Tôi không hiểu sao thi nhân cứ vô thức mãi như thế này:

“Thoáng bóng mây chiều
Qua ngõ
Dụi mắt
Lá vàng rơi
Cây thì cứ đứng
Gió thì cứ thổi
Nao nao
Tôi gọi
Một tên người”

Trong chiều gió thổi thi nhân cứ gọi mãi một tên người nhưng không một lời đáp lai .Buồn là phải, nao nao là phải. Cứ thế mỗi chiều gió thổi thi nhân lại ra đứng đầu làng goi, goi mãi. Gọi mãi cho trọn một kiếp người. Tôi tin sẽ là như thế.
Xin được nói đôi điều về thơ tình trong Hương hoa mộc .Rất ít khi tôi gặp được ở các thi nhân viết về vợ mình có chất Tú Xương như Vũ Thiện Khái trong bài Dặm về. Sao lại là dặm về. Có phải đã có một cuộc chia ly hay một thời quên lãng. Đúng như thế. Nhưng ở đây ta trách it mà cảm thong chia sẻ thì nhiều vì:

“Ta trót dại viễn vông
Mơ hóa bướm
Hì hục lục tìm kho sách cũ
Chẳng gặp Trang Chu
Nhan như ngọc
Không hiện ra từ trang giấy”

Mải lãng du kiếm tìm chút bụi vàng văn chương quên cả thời gian khi quay lại dặm về thì đã:

“Trước gương
Râu tóc Bạc
Trước ta
Em đấy a ?
Mái liễu, hồ thu đâu thời xanh biếc”

Thi nhân đã bỏ quên người vợ xuân sắc một thì .Một người vợ đảm đang tần tảo:

“Từ ao bèo ruộng cấy
Em bước vào đời ta
Vai mảnh gánh gồng vất vả
Bếp lạnh hồn em giữ lửa
Áo ấm mùa đông các con
Đêm giá buốt em đan”

Ở đời ai vậy khi ta sống cận kề nhau ta không hiểu được thật thấu đáo về sức mạnh bù đắp của tình yêu. Chỉ khi cách xa,dù chỉ tạm thời ta mới mới thấu hiểu “Tình già” của Vũ Thiện Khái đã nói hộ cho ta điều ấy:

“ Vắng một đêm nhớ một đêm
Xa một ngày nhớ dày thêm một ngày
Mình ơi mấy chục năm rày
Tình già vị nó thế này đấy u ?”

Đó là vị của cô đơn trống vắng khi phải sống chia li dù đã già. Vẫn biết trong đời hiện đại đã có muôn vạn lí do để chia li. Một trong những lí do bất khả kháng tôi đã đề cập trong bình luân bài thơ “Trông bà” Đó là “Bà lên trông cháu cho con”
Vẫn còn rất nhiều bài thơ tình hay trong Hương hoa mộc. Nhưng tôi không muốn làm pha loảng “Dặm về”, “Tình già”. Bởi những bài thơ tình hư ảo viết về tình yêu không có thực trong đời mà chỉ có trong thi ca. Nhưng xin cho một ngoại lệ với bài “Ơ kìa” và “Hai đóa trăng rằm” của Vũ Thiện Khái:

Ơ KÌA

Phải không em
Tự cõi lãng quên
Thình lình vụt hiện
Bên hiên láng giềng
Ơ kìa
Vành nón nghiêng nghiêng
Vờ che má lúm đồng tiền… ngày xưa
Ơ kìa
Ánh mắt đung đưa
Vành môi cắn chỉ
Như vừa đây thôi
Từ ngày
Người bỏ đi rồi
Đầy trời
Mây bạc như vôi một màu
Bạc đầu
Tưởng cạn niềm đau
Ai dè
Một thoáng nhiệm màu
Người ơi
Người ơi
Trốn
Tận cùng trời
Ngẩn ngơ
Tôi…
Vẫn….
La… Tôi dại khờ”

HAI ĐÓA TRĂNG RẰM

Thuở mười lăm
Một đêm rằm
Tôi có hai đóa trăng
Một đóa lung liêng lưng trời
Gió mây lơi lả
Rải vầng bát ngát nhân gian
Một đóa
Dưới vòm cây mờ tối
Long lanh
Nây nẩy
Tròn đầy
Trắng nõn trăng em khỏa nước
Một vầng ngà ngọc phơi
Bậc đã dậy tình xuân hôi hổi
Bến làng lóng lánh sóng Thiên thai
Từ đấy
Hồn tôi đeo mãi
Hai đóa trăng khắc khoải
Mỗi rằm”

Vũ Thiện Khái có những câu thơ vụt hiện mà vẻ đẹp và thông điệp gửi gắm của nó làm cho ta phải ngỡ ngàng. Tôi xin trích dẫn một số câu mà không binh luận.
Đây là cảnh vườn nhà của thi nhân:

“ Vườn sau thơm trái quýt vàng
Ao trăng lóc bóc tôm càng búng râu”

Thật êm ả thanh bình cho một vùng quê miệt vườn Nam bộ Ông thương cảm một loài hoa:

“Ta thương bông mai chiếu thủy
Bế bỏng năm cánh khiêm nhường
Dấu mình ẩn trong nách lá
Cúi đầu mặt nước soi gương”

Viết về muôn sự mất còn:

“ Nắm bàn tay tóc như bông
Mở bàn tay gió quét không còn gì”

Và cũng nhiều hoài niệm xót xa:

“Em còn nhớ chút ngày xưa
Tôi về bán tuổi mua mùa thơ ngây
Đợi trăng em buổi tròn đầy
Tôi xin sang với mẹ thầy rước dâu”

Đây là nghịch cảnh của cuộc đời:

“ Bên kia cứu nạn sư già tụng
Bên sẻ từng xiên…lửa bỏng thiêu”

Viết về sự sáng tạo của thi ca:

“Khoảnh khắc
Nhà thơ gom lửa cả đời mình
Tự hóa
Câu thơ bất tử giáng sinh
Tôi cúi rạp mình
Kính cẩn”

Đề tài về thơ thế sự đẫm đầy thong Hương hoa mộc. Nhưng tôi không bình luận về mảng thơ này của Vũ Thiện Khái ở bài viết này. Chỉ mong rằng ai đang may mắn có tập thơ xin hãy đọc nó chăm chú và cẩn trọng để khám phá những điều hay vẻ đẹp trong thơ ông. Để thấu hiểu lòng trắc ẩn của Vũ Thiện Khái đối với con người và vạn vật quanh ta. Tôi chỉ giới thiêu một bài thơ mà đọc nó tôi thấy tim mình như dao cứa.

NHỮNG CHÚ CUỐC

Mùa tình yêu
Đêm
Những chú cuốc
Lang thang
Xé cổ gọi bạn tình
Vang động
Đồng không
Gió lộng
Một tấm lưới
Nhẹ nhàng trườn tới
Êm ru tung cú chụp
Tiến gọi yêu
Chết lặng
Dưới trời trăng
Sáng mai
Chen chúc trong lồng
Giữa chợ
Những chú cuốc
Ngẩn ngơ
Thương nhớ
Ngẩn ngơ
Ngó mắt người
Hau háu

Như trên tôi đã nói thơ Vũ Thiện Khái thì mênh mông sâu thẳm mà cảm xúc của tôi lại thuộc về sự hữu hạn. Tôi chỉ mới chạm được vào cái hay cái đẹp của thơ ông .Điều cơ bản mà tôi làm được đó là chọn lựa những câu thơ, bài thơ mà tôi tâm đắc để giới thiệu cùng các bạn. Rất mong nhà thơ và các bạn rộng lòng lượng thứ.
Đến với văn chương ai chẳng có khát vọng tìm cho mình chút bụi vàng văn chương để lưu giữ chút danh phận với thời gian với cõi người. Theo tôi: HƯƠNG HOA MỘC, ĐẤT THIÊNG, THAO THỨC SÔNG QUÊ đã là chút bụi vàng văn chương mà Vũ Thiệ Khái sàng đại được trong bãi sa bồi mênh mông vô tận: CÕI NGƯỜI ./.

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *