logo

ĐỌC “LẶNG LẼ XANH”-THƠ DUY KHOÁT

Thiên chức vĩnh hằng của cây là xanh. Nhưng không phải vì thế mà nó xanh một cách ồn ã, xanh một cách vội vàng. Để có một màu xanh vĩnh hằng ấy là một sự lặng lẽ đến vô cùng. Từ những hạt nhỏ li ti như hạt vừng, hạt cải đến những hạt mà mắt trần ta không thấy được, rồi để có những mầm xanh non nớt, yếu mềm của khoảnh khắc sinh nở những hạt ấy đã trải qua một thời ủ chín, một thời luyện tôi và cả những kiếp phù du. Tất cả những hạt đó muốn được tồn tại, sinh sôi nảy nở đều phải tôi qua nắng gió. Còn như cây đa cổ thụ kia, tỏa bóng mát và điểm tô cho những làng quê đất Việt, che phủ cho bao nhiêu mái chùa, mái đình cổ kính cũng chỉ đựơc sinh ra từ một cái hạt vô cùng nhỏ bé. Để có được cây đa cổ thụ nhường kia thì những hạt đa ấy không phải chỉ được luyện tôi trong nắng gió, mà nó còn phải luyện tôi qua nhiệt độ thân nhiệt của các loại chim, rồi còn phải nổi chìm lang thang khắp muôn phương mọi nẻo theo những cánh chim bay. Những bãi phân bài tiết ra từ những loài chim trong đó có những hạt đa sẽ bám vào những mái đình, mái chùa rêu phong cổ kính, hay một khe nứt trên tường. Hạt đa cứ thế sinh sôi nảy nở một cách lặng lẽ không ai biết, chẳng ai hay, bám rễ vào khe nứt, vào mái đình, ban đầu như kiếp phù sinh rồi sau đó đâm rễ xuống đất và lớn lên trở thành đại thụ.
Tôi trộm nghĩ rằng thơ Duy Khoát đã là như thế. Thơ anh cứ thế lặng lẽ tách vỏ, lặng lẽ nảy mầm, lặng lẽ sinh sôi, lặng lẽ xanh để rồi có được bóng mát như ngày hôm nay. Tuy chưa phải thật to lớn nhưng nó cũng đủ bóng mát chở che cho dù chỉ một con người – người đó là em đi chăng nữa thì đó dã là một hạnh phúc lớn lao. Rồi thơ anh cứ thế lớn lên, rồi biến cải và đã là “giọt sương trên lá” ấm đẫm thân cành, ấm đẫm lòng người và lung linh soi tỏ. Có lẽ thế nên tôi rất thích bài thơ “Lặng lẽ” của nhà thơ Xuân Huy viết tặng Duy Khoát:

“Lặng lẽ xanh từng chiếc lá
Mát xanh che ánh mặt trời
Lặng lẽ đọng từng quả chín
Ngọt ngào dâng vị đầu môi”

Khát vọng của Duy Khoát không lớn lao, không ồn ã mà chỉ là:

“Ước mình như một con ong
Tìm muôn hoa nhị từ trong trời đất
Tạo nên mật ngọt hương đời
Những câu thơ gửi cho người đang yêu”

Tôi nghĩ khát vọng đó của Duy Khoát đã tiệm cận với hiện thực. Thơ anh chưa phải là thứ mật ngọt mà anh chắt ra từ những gì tinh tuý nhất của đất trời, nhưng đã là những quả chín dâng hương vị ngọt lành cho những kẻ đang yêu.
Tình yêu trong thơ Duy Khoát sao dạt dào, sao kỳ ảo và sao lại mỏng manh đến thế. Anh gửi tình yêu của anh qua đôi mắt của người con gái Hà Nội:

“Anh càng thiết tha yêu Hà Nội
Mỗi lần về soi trong mắt em”
Không chỉ là đôi mắt mà còn:
“Cứ thon thả dịu dàng như thế
Mà em làm giông bão lòng tôi”

Rồi anh lại cụ thể nó thành chén rượu nồng, thành vị rượu chua cay xé bờ lưỡi. Những thứ đó mà anh có thể chạm môi, chạm tay vào được. Sự cách điệu về em đã đi đến tận cùng qua bài thơ “Chiếc khăn quàng”:

“Như khói sương nhẹ mỏng đến mơ hồ
Là chiếc khăn tơ tằm ôm mái tóc
Gương mặt em vầng trăng thu mới mọc
Sáng giữa màu mây đẹp dài khăn bay:
Ta muốn làm ngọn gió đuổi theo mây
Cho được đẫm ngọt ngào hương mái tóc
Ôi con tằm dệt đường tơ ngang dọc
Mắc ta vào tấm lưới dịu dàng sao”.

Chẳng hiểu người yêu thực ngoài đời của Duy Khoát như thế nào mà trong thơ nàng lại diệu kỳ đến thế ? Nhưng đôi lúc anh cũng trần tục hơn, mãnh liệt hơn như bài “Sông chiều”.
Theo tôi Duy Khoát không phải là con chiên ngoan đạo của giáo phái tình yêu. Bởi tình yêu không có giáo phái. Tình yêu là của muôn loài đực, cái, muôn loài cỏ hoa để sinh tồn. Nhưng chỉ có con người mới biểu hiện được nó thành ngôn ngữ. Duy Khoát là người kiếm tìm, là người chiếm đoạt, là kẻ muốn ngự trị tình yêu. Nhưng lại rất riêng theo cách của Duy Khoát đó là sự lặng lẽ. Lặng lẽ soi vào mắt em để yêu thêm Hà Nội. Lặng lẽ ngắm dáng hình thon thả của em để cho lòng bão nổi. Lặng lẽ tơ vương vài mái tóc kỳ ảo của em để được thấm đẫm hương thơm. Lặng lẽ kiếm tìm hương nhị của muôn hoa để kết mật cho em, kết m mật cho đời. Người mà Duy Khoát yêu không phải là một con người có thực mà nó chỉ là hư ảo trong mơ. Khi em là cô gái Hà Nội sau quầy bách hoá. Khi em là cô gái làng hoa Ngọc Hà. Rồi nữa đôi mắt em đen láy như hạt nhãn lồng Hưng Yên. Em nồng nàn như chén rượu ngô Nghĩa Lộ. Thế gian này ở đâu có đàn bà là ở đó Duy Khoát có tình yêu. Nhiều khi đọc thơ tình của Duy Khoát ta tưởng anh chỉ nói về cái tôi, chỉ nói về một người. Nhưng không anh đã yêu tất cả mọi con người. Tình yêu chỉ là một điều gì đó cao xa vời vợi và hư ảo vô cùng, nhưng Duy Khoát lại không hiểu như thế hoặc không muốn hiểu như thế nên có lúc anh đã muốn cưỡng đoạt nó. Có lẽ bài thơ “Trăng” đã là một sự đánh thức, một sự bừng tỉnh để Duy Khoát trở về với thực tại:

“Ta khờ khạo vừa chạm tay xuống nước
Đã giật mình sóng động, trăng tan”

Khác với những gì trong “Cây lặng lẽ xanh”, “Giọt sương trên lá” của Duy Khoát đã có một cái gì đó không còn lặng lẽ được nữa. Một sự hoá thân tất yếu. Bởi thời buổi kinh tế thị trường cuộc đời này còn lắm bão giông, còn nhiều đen đúa. Thơ Duy Khoát đã ngấm đậm nỗi đau không phải là nỗi đau đơn côi cho một tình yêu không được đền đáp mà là nỗi đau nhân thế. Duy Khoát đã muốn bừng lên, đã muốn là giọt sương thấm đẫm trên lá cành, thấm đẫm lòng người làm dịu đi những bão giông và đau khổ, đã muốn lung linh soi tỏ để bớt đi cái đen đúa của cuộc đời. Đọc “Giọt sương trên lá” ta bắt gặp nỗi lòng trắc ẩn của anh đối với cuộc đời. Anh đã cảm nhận được mùa thu tuổi tác đã đổ bóng xuống đời anh. Thời gian không chỉ là kẻ bạc tình mà nó còn khắc nghiệt và phụ phàng lắm lắm. Thế mà có lúc anh đã hờ hững lãng quên:

“Sáng nay ngơ ngẩn lòng ta
Bỏ quên cái đẹp vừa qua trong đời”.

Sự lơ đễnh, sự hờ hững với một bông quỳnh vừa nở trong đêm đã làm nhói đau trái tim Duy Khoát thế đó. Có phải vậy chăng mà anh đã hối hả, đã chăm chút hơn để cảm nhận sự hoà quyện của đất trời:

“Lạ không em lúc đêm thâu
Cỏ cây như cũng ôm nhau thì thầm”.

Cỏ cây ôm nhau hay chính anh đang muốn ôm cuộc đời để phả hơi ấm của thơ anh vào đó khi cuộc đời này vẫn:

“Giờ sông vẫn còn lấm láp
Với người quê núi cần lao”.

Thơ Duy Khoát xa hơn, dài hơn, rộng hơn, sâu hơn trong muôn mặt cuộc đời. Anh đã đến với Sông Lô Tuyên Quang. Anh đã viết về với Móng Cái trong một chiều mưa để cảm nhận cho hết:

“Cái yên tĩnh nơi này đang dấu bao điều ngờ vực”

của một thị xã vùng biên giới. Anh về Nam Hà quê hương của Nguyễn Khuyến để tự soi tỏ lòng mình, để tìm cái:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”

Nhưng những gì diễn ra nơi đây thật quá đau lòng:

“Vườn Bùi nay đã bao thay đổi
Ngõ trúc quanh co, trúc đã tàn
Ao thu ai lấp còn non nửa
Lạnh lẽo soi vào mặt thế gian”.

Khổ thơ thật mãnh liệt. Mặt thế gian đáng ra phải được soi tỏ trong cái ao thu tròn trĩnh trong veo. Nhưng cái ao thu ấy đã không còn. Đành lòng vậy, cầm lòng vậy mặt thế gian thời buổi này chỉ có thể soi được một nửa vào cái nửa ao thu còn lại kia. Còn nửa mặt kia của thế gian, cái nửa mặt đen đúa, tồi tàn thì cứ lẩn khuất mãi không thôi. Tôi đã thật sự bàng hoàng khi đặt khổ thơ ấy. Cơ chế thị trường không chỉ tàn phá nhân cách, phẩm hạnh và cảnh quan của chốn thị thành mà nó còn len lỏi và tận những miền quê thanh bình sâu thẳm nhất để mà tàn phá. Ở đâu đó:

“Bàn dịch vụ sư thầy ngồi bán sớ
Mô-bai-phôn chuông đổ liên hồi
Có tín chủ vào chùa xin giải hạn
Váy ngắn ngang đùi đỏ chót son môi”.

Nhưng nơi này quê hương của Yên Đổ:

“Trung lương xưa gọi làng Yên Đổ
Truyền kiếp bao năm chẳng thoát nghèo
Mái cũ ngôi đình đang xập xệ
Đường làng khấp khểnh giữa tre pheo”

Anh lại ngược lên Nghĩa Lộ để một lần nữa:

“Phút đắm đuối cầm tay “rượu hỏi”
Em có về xuôi với anh không ?”

Câu thơ thật lãng mạn, thật tài hoa. Lãng mạn ở cái chữ “rượu” ấy và tài hoa cũng ở chữ “rượu” ấy. Vâng chỉ rượu hỏi thôi, chứ Duy Khoát đâu có dám mở lời rủ rê ai đó khi tuổi tác đã ngả bóng sang chiều. Câu thơ vừa thực, vừa ảo. Đọc thơ Duy Khoát ta thường bắt gặp ở anh những bài thơ, những câu thơ thăng hoa như vậy đó. Trong đời mỗi chúng ta có lẽ không ít hơn một lần “cầm tay rượu hỏi” ấy.
Anh vào nghĩa trang đường 9 để cảm nhận cho thật hết nỗi đau của bao con người ngã xuống. Nhưng khi đã ngã xuống rồi thì họ không còn nỗi đau nữa. Để cảm nhận cho thật hết nỗi đau của bao bà mẹ mất con, của bao người vợ mất chồng. Nỗi đau của những hòn vọng phu thời chống Mỹ, những hòn vọng phu không hoá đá. Tô Thị, Vọng Phu hoá đá bên cạnh họ còn có đứa con thơ. Còn bao người vợ trẻ không hoá đá mà chỉ đứng chơ vơ một mình:

“Và ai vợ trẻ mong chờ
Tóc mây đã trắng bên bờ thời gian”

Đọc câu thơ ta thấy tim mình như nghẹn lại. Duy Khoát hiểu rằng thơ anh dù có lặng lẽ xanh, hay xanh đến bạt ngàn đi chăng nữa. Dù anh có chắt lọc tất cả hương thơm vị ngọt trong cả đất trời này anh cũng chỉ có thể tặng nó cho người đang yêu chứ không thể mảy may làm dịu đi nỗi đau muôn kiếp này. Bởi thế, anh chỉ biết:

“Cúi đầu bái biệt các anh
Rưng rưng ngờ cuộc chiến tranh chưa ngừng”

Không phải ngờ đâu ! Cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm thì đã ngừng rồi. Nhưng cuộc chiến tranh chống đói nghèo, tham nhũng, ma tuý, tha hoá thì mới chỉ bắt đầu. Cuộc chiến tranh này còn lâu dài và gian khổ gấp nhiều lần bởi kẻ thù cứ lẩn khuất trong ta, nham hiểm và lọc lừa lắm lắm.
Có người sẽ bảo sao tôi không bàn về nghệ thuật trong thơ Duy Khoát? Nghệ thuật là gì? Theo tôi, nếu không có một trái tim biết run rẩy, biết cảm xúc trước tất cả những gì được, mất của cuộc đời, nếu không có một tấm lòng nhân ái, bao dung thì nghệ thuật chẳng là gì cả. Đã có bao người hô hào đổi mới, cách tân và hiện đại. Nhưng cái đổi mới, cách tân và hiện đại đó có đem đến cho người đọc một điều gì thì đó đang là một câu hỏi lớn làm đau nhói bao trái tim trong thơ đương đại. Theo tôi nghệ thuật trong thơ Duy Khoát đã lồ lộ ra đấy. Duy Khoát đã dùng ngôn ngữ của riêng mình để truyền đựơc cảm xúc cho người đọc, bắt người đọc phải giận hờn, phải ghét bỏ, phải yêu thương và phải khát vọng cùng anh về cuộc đời này./.

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *