logo

ĐỌC SÁCH – KHÁT VỌNG BẠCH ĐẰNG

Hiếm có một vùng đất nào cùng một lúc sinh ra các nhà thơ cháy đến tận cùng cảm xúc và sống chết với mình như vùng đất Quảng Yên nơi cửa sông Bạch Đằng lịch sử.
Với tôi, nhóm Tam Hữu không chỉ là 3 nhà thơ mà họ còn là những người dũng cảm. Trong thời buổi có nhiều nhiệu động về cuộc sống, về văn học mà họ luôn xả thân để bảo vệ sự trong sáng, giản dị của thơ truyền thống và thơ họ chỉ viết về vẻ đẹp, điều thiện của cuộc đời. Họ xứng đáng là những nhà thơ dũng cảm.
Thời buổi mà người ta đang tung hô “Thơ không cần phải hiểu” mà họ lại đi tìm cái giản dị, cái trong sáng của thơ liệu họ có tự biến mình thành những kẻ ngu ngơ khờ khạo trên Thi Đàn hiện đại. Xin được thưa rằng: Đến người điên múa may chân tay, miệng lải nhải giữa ngã ba đường mà người ta vẫn dừng lại để xem nó làm gì, nghe nó nói gì. Huống hồ các nhà thơ ? !
Thời buổi mà người ta bảo rằng, văn học không phản ánh mặt trái của xã hội là có tội, mà thơ họ chỉ viết về vẻ đẹp và điều thiện của cuộc đời. Phải chăng họ là những người có tội? Xin được biện hộ rằng: Viết về mặt trái xã hội nếu không đủ thành tâm, không đủ tài năng sáng tạo để biến nó thành tác phẩm văn học chân chính thì những gì viết ra sẽ thô thiển, trần trụi và nhiều lúc sa đà sẽ trở thành cay độc. Không giúp được gì mà còn góp phần làm ô nhiễm cuộc sống. Trong lúc chờ trời phú cho tài năng sáng tạo thì nhóm Tam Hữu vẫn cứ viết về vẻ đẹp và điều thiện, mong góp một phần nhỏ bé, mang chút lửa của thơ sưởi ấm cuộc đời, vì cuộc đời hiện đại đã bị lạnh giá, vô cảm đi rất nhiều do hệ luỵ của cơ chế kinh tế thị trường.
Hiếm có một tập thơ in chung nào như “Khát vọng Bạch Đằng”. Mỗi người mỗi vẻ, một phong cách nhưng lại cứ đan xen, hoà quyện, bồi đắp cho nhau. Người trong sáng giản dị, người đắm đuối mê say lãng mạn, người nhân hậu bao dung để kết thành một “Khát vọng Bạch Đằng”.
Để nói về khát vọng thi nhân trong “Khát vọng Bạch Đằng” tôi xin mượn lời của Pau-tốp-xki: “… Nhưng cũng như bông hồng vàng của người thợ hót rác già kia làm ra là để cho Suy-gian được hạnh phúc. Sáng tác của chúng ta là để cho cái đẹp của Trái đất, cho lời kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc, vì niềm vui và tự do, cho cái cao rộng của tâm hồn và sức mạnh của trí tuệ chiến thắng bóng tối, cho rực rỡ như một mặt trời không bao giờ tắt” (*). Khát vọng Bạch Đằng là thi phẩm đã vươn tới được những điều đó.
Họ đã biết khiêm nhường để dâng hiến:

“Câu thơ cất tiếng lòng ta
Nguyện cầu làm hạt phù sa Bạch Đằng”

(Lê Hữu Lịch)

Biết bình tâm để đón đợi:

“Hãy dấu đi niềm đau
Đón ngọn nguồn chảy tới
Neo trăng vào bến đợi
Sông mơ ta đợi người”

(Đợi ở sông trăng – Dương Phượng Toại)
Biết thanh thản để hoà đồng:

“Ta thả lòng thanh thản
Trong ban mai vời vợi Cánh Đồng Người”

(Thanh thản – Dương Phượng Toại)

Biết nhân hậu và bao dung:

“Cầu cho mỗi con sông chảy bình yên lặng lẽ
Chở những cánh buồm, thả những áng mây trôi
Không phải như ta đốt mình cho lịch sử
Máu nhuộm cờ, mắt đỏ lệ cay”.

(Khát vọng Bạch Đằng – Lê Duy Thái)
Và:

“Sông chảy vàng lịch sử
Chẳng tự mong bao giờ”

(Sông lịch sử – Lê Duy Thái)

Những tập thơ như “Khát vọng Bạch Đằng” luôn chối bỏ những lời bình thô thiển, phù phiếm. Tự thân nó đã đẹp và lung linh kỳ ảo, đã trong sáng và giản dị. Chính vì thế mà nó có sức mạnh truyền cảm trực tiếp cho người đọc, sẻ chia thấu hiểu với họ. Những câu thơ tôi trích dưới đây dùng chỉ để minh chứng cho điều tôi nói. Sự bình phẩm ở đây chỉ có thể là một vài nét điểm tô, chấm phá nào đó.
Lê Hữu Lịch có những câu thơ thật lãng mạn, đắm say, luôn hướng cho lòng ta vươn tới vẻ đẹp trinh nguyên của con người, của cảm xúc con người:

“Chưa cầm tay đã nao nao
Đã nghe tiếng gió lọt vào yếm ai”

Hoặc nữa:

“áo em tà lật hương bay
Thơ anh vấp cái khuy cài buông lơi”

(Hội chùa Quỳnh Lâm – Lê Hữu Lịch)

Sự tinh tế của tận cùng tinh tế. Cái đa tình của tận cùng đa tình. Đa tình nhưng không thô tục. Đa tình của Lê Hữu Lịch là cái đa tình rất thi sĩ.
Và rồi ông tương tư:

“Tóc em buông rối câu thơ
Anh đem ra gỡ sân chùa gió bay”

(Hội chùa Quỳnh Lâm – Lê Hữu Lịch)

Thơ của Lê Duy Thái có sức nặng ám ảnh. Những câu thơ như ứa máu viết về nỗi đau chiến tranh:

“Một lời hẹn, một niềm tin
Thôi về dưới đó mà tìm lại nhau”

(Trinh bạch – Lê Duy Thái)

Một lời hẹn ước lứa đôi không thể thực hiện được trong cõi nhân gian là do sự tàn khốc của chiến tranh. Họ đành chờ vào kiếp luân hồi để tìm thấy nhau, giữ trọn với nhau lời hẹn ước giữa một chàng trai tóc hãy còn xanh và một người quả phụ mái đầu đã pha sương.
Ông có những câu thơ kỳ vĩ:

“Giọt máu hồng lung linh pha máu
Đốt chiều thu cháy sáng trời xanh”

Hoặc:

“Gốc dương liễu bóng tím chiều mây khói
Mặt sông xưa sóng mắt dậy dâng tình”.

Và còn:

“Trăng đầu tháng khuyết rơi lưỡi kiếm
Ai cất trong mây le lói bên ghềnh”

(Kỷ niệm – Lê Duy Thái)

Khát vọng của dòng sông Bạch Đằng chính là khát vọng của thi nhân. Khát vọng về một nhân loại không có chiến tranh, khát vọng về một sự bao dung và nhân hậu của một con sông của lịch sử cũng chính là khát vọng nhân hậu và bao dung của đất nước ta, của dân tộc ta. Dòng sông này không bao giờ tự mong mình trở thành nơi máu đổ xương ngâm của vạn vạn sinh linh. Rừng thiêng nơi đây không bao giờ muốn là nơi nương náu của vạn vạn cô hồn dù đó là những tên xâm lược.
Hồn thơ của Dương Phượng Toại là hồn thơ lung linh kỳ ảo. Đọc thơ ông tôi như nhìn thấy ánh lấp lánh của bụi vàng. Thứ bụi vàng mà Sa-mét đã làm nên bông hồng vàng cho Suy-gian được hạnh phúc. Thơ Dương Phượng Toại cũng vậy, nó đã đựơc kết tinh từ những bụi vàng mà ông đã sàng đãi gần cả cuộc đời trong sa bồi cuộc sống để kết tinh thành bông hồng vàng. Đọc thơ Dương Phượng Toại tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc, tâm hồn tôi như lớn lên vì được bồi đắp, được thanh thản và ấm áp rồi tôi lại sống, lại yêu thêm cuộc đời này. Tôi lại ước mơ vươn tới điều Chân, Thiện, Mỹ trong đời.
Thơ Dương Phượng Toại bao giờ cũng đẹp kỳ ảo:

“Lúa biếc nõn một màu xanh biếc nõn
áo em phơi sóng sả gió mùa sang
Như tuổi em hây hây thời đưa đón
Ta thẫn thờ hoá tượng dưới đêm trăng”

(Đồng trăng – Dương Phượng Toại)

Em là trăng, là người con gái ông yêu, hay em là cánh đồng biếc nõn, em là cuộc đời ?
Thơ ông lấp lánh ánh vàng vì đã biết:

“Dạt bọt bèo ra ngoài con sóng
Gạt ngày hoang khỏi khúc thơ ta
Sông thao thiết gieo mùa vàng óng
Thơ ngân trầm một tiếng buồn xa”

(Mỗi ngày – Dương Phượng Toại)

Vâng, chỉ là một tiếng buồn xa. Tiếng buồn ấy rồi cũng sẽ bay đi, nhường lại cho cuộc đời chỉ những niềm vui !
Dương Phượng Toại luôn có khát vọng được hoà đồng và luôn cháy một niềm tin vào cuộc sống:

“Lúa đây rồi ! Lòng ta chẳng cô đơn
Qua giông bão lại đổ về ắp vựa
Ta ở trong lòng em một nửa
Màu vàng rơm dâng hiến cả nong trời”

(Đồng trăng – Dương Phượng Toại)

Những khiêm nhường dâng hiến, lãng mạn và đắm say, bao dung và độ lượng, tất cả những điều đó đã hun đúc lại thành ngọn lửa để cháy lên một “Khát vọng Bạch Đằng”. Ngọn lửa khát vọng đó sẽ cháy mãi, sáng mãi trong “Vời vợi cánh đồng người”.

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *