logo

ĐỌC TẢN VĂN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ TRÊN TẠP CHÍ THƠ

NGUYỄN NGỌC TƯ
VỚI NỖI HOANG MANG SỢ HÃI THẾ GIỚI
CÔ ĐƠN VÀ VÔ CẢM

Khi giới thiệu bản dịch tiểu thuyết Lâu đài của Nhà văn Kafka, dịch giả PGS, TS Trương Đăng Dung đã viết: “Hình ảnh của Kafka là hình ảnh của cõi mộng, của những cơn ác mộng có nguồn gốc từ nỗi hoang mang lo sợ trước thế giới. Điều đó làm nên đặc trưng của thế giới, của Kafka”. Tôi xin mượn lời đánh giá ấy cho thế giới văn học của Nguyễn Ngọc Tư. Thực ra nỗi sợ hãi thế giới không chỉ tồn tại ở Nguyễn Ngọc Tư và ở hầu khắp các nhà thơ, các nhà văn có lương tâm và trách nhiệm đều có chung nỗi sợ hãi ấy. Ngay như chính Trương Đăng Dung là nỗi sợ hãi sự không tồn tại của thế giới khách quan:

“Em có thực và anh có thực
Em có thực hay dòng sông có thực ?”.

Khi ngồi với em trên đồi Vọng Cảnh. Ông còn đẩy nỗi hoang mang và sợ hãi ấy lên cao hơn:

“Anh sợ đến một ngày dòng sông ngừng trôi
Đất khô cứng những giọt buồn hoá đá
Anh sợ đến một ngày hồn anh từ cõi lạ
Trở về đây không còn có dòng sông”

Còn Nguyễn Đức Mậu thì hoang mang lo sợ không biết ngày nào trở lại được Trường Sơn để thắp những nén hương trên:

“Năm ngôi mộ được đắp bằng nước mắt
Nơi cánh rừng nhiều đom đóm bay”

Nguyễn Sỹ Đại thì lo sợ :
“Đài nghiên khô mực tả thanh thiên, nước thải chôn rùa, chôn cả kiếm”.

Còn Thanh Tùng thì lại sợ lúc trở về Hà Nội:

“Bạn bè thơ thẩn bắn ra ngoại ô, chỉ còn nội ô buôn buôn bán bán, những mặt người tiền bạc”

. Bùi Việt Mỹ thì ra đường không dám làm việc thiện sợ “Nhân biến vạ lây” và còn sợ sự vơi cạn, bào mòn của nhân cách:

“Đông thế mà sao chẳng lắm người”.

Nguyễn Thúy Quỳnh thì:

“Ra đường thì sợ người đông
Vào chùa thì sợ Phật không tin mình”

Và:

“Muốn về rừng núi mờ sương
Sợ đi biệt xứ núi rừng quên ta
Bấy lâu uống nước phù hoa
Ăn cơm kẻ chợ ta là ai đây
Bây giờ dở khách, dở tây
Thả đêm chẳng mắc, thả ngày chẳng trôi” v.v…

Không thể nào trích dẫn hết những nỗi hoang mang và lo sợ của các nhà thơ đương đại. Nhưng có một điều chắc chắn rằng cả Nguyễn Ngọc Tư, cả Trương Đăng Dung và tất cả các nhà thơ khác nỗi hoang mang và sợ hãi thế giới lại được bắt nguồn từ tình yêu con người, tình yêu đất nước.
Đối với Nguyễn Ngọc Tư tôi coi đây là một hiện tượng văn học đặc biệt. Tôi thực sự kinh ngạc vì sao một cô gái ở thế hệ 7X lại có một vốn sống từng trải, sâu dày và mênh mông đến thế. Hình như chị đã đào xới, và để mắt đến tất cả mọi ngõ ngách, mọi nơi chốn không chỉ ở “Cánh đồng bất tận” của chị mà còn khắp trên cả cõi người này. Tôi thực sự kinh ngạc vì sao một cô gái thuộc thế hệ 7X lại có cách nhìn, cách nghĩ, cách viết đầy lương tâm và trách nhiệm công dân đến thế. Nguyễn Ngọc Tư viết vì cuộc đời và viết cho cuộc đời. Cái nhìn của Nguyễn Ngọc Tư đối với những con người nghèo khổ, đoạ đầy vì những cơ chế kinh tế bất cập nơi “cánh đồng bất tận” của chị bằng cả tấm lòng nhân hậu nhất. Thế giới văn học của Nguyễn Ngọc Tư theo tôi chỉ có thể lý giải được bằng cách coi đây là thế giới văn học thiên phú. Hoặc như tôi đã nói ở trên vì nó được bắt nguồn từ nỗi hoang mang và sợ hãi thế giới cô đơn và vô cảm của cõi người.
Đọc tản văn của Nguyễn Ngọc Tư nói chung và nhất là bài tản văn “Chập chờn lau sậy” đăng trên tạp chí thơ số 8/2009 ta càng thấy nỗi hoang mang sợ hãi ấy là có thực. Riêng tôi, tôi coi “Chập chờn lau sậy” là một bài thơ. Nếu nó là tản văn thì là một bài tản văn viết bằng thơ. Đây chính là những câu thơ: “Bông lau, sậy đẹp nhất là lúc đang tàn, lúc đang phai. Hình thư có vài thứ giống vậy, như mùa thu, pháo hoa, giao thừa, tiếng chuông chùa… lúc đẹp là lúc mất. Chẳng hiểu đẹp để mất, hay vì biết mình sẽ mất nên đẹp”. Nguyễn Ngọc Tư sợ hãi sự bất lực của con người. Cây lau, cây sậy vẫn biết vươn lên để mà tồn tại dù chẳng ai cần đến nó, dù chỉ còn một chút mầm sống nhỏ nhoi nó vẫn cứ vươn lên để tồn tại mà sao con người: “Ba nhắc những người lính, những người bỏ đi khỏi vùng giáp ranh tránh đạn lạc, lại nhiều người vượt biển tìm chân trời khác… Dấu chân vừa kịp cũ thì lau sậy đã mọc lên lấp mất”. Những con người không dám bám trụ nơi mảnh đất quê hương thì quê hương và cả lau sậy nữa chóng quên họ âu cũng là lẽ đời, lẽ trời. Trong chập chờn lau sậy Nguyễn Ngọc Tư còn muốn gửi gắm cả nỗi sợ hãi của chị cho sự cô đơn của cây lau, cây sậy: “Gần với con người, lẫn giữa con người, vây bọc con người nhưng lau sậy thì cực kỳ cô đơn”. Có một điều chắc chắn rằng cây lau, cây sậy thì muôn đời vẫn khác con người ở chỗ: “Tôi Cụ Non ngồi nhìn những bông sậy long đong tình cờ kết lại thành chùm quay tròn trên nền gạch, thấy buồn, chúng nhỏ nhoi đến mắt thường nhìn còn khó mà biết tìm kiếm, biết thương nhau, mà mấy bạn mình cùng long đong xứ khác lại không thèm ngó mặt mà chính mình cũng đang muốn tránh xa người”.
Nguyễn Ngọc Tư hoang mang sợ hãi sự vô cảm, vô cảm đến câm lặng của lớp người trẻ tuổi hiện nay khi chị viết “Vừa hết”. Vừa hết nghĩa là chẳng còn gì, một câu nói ấm áp cũng không, một ánh mắt nhìn ấm áp cũng không chỉ còn lại:

“Những ngón tay câm lặng
Những ngón tay gật đầu câm lặng
Những tin nhắn làm nên câm lặng”
Và “Thời điện thoại nhận được nhiều âu yếm hơn người”.

Còn đây nữa:

“Bạn bè đủ mặt
Khói thuốc đủ cay vai áo
Chỉ không đủ lời để thành lời
Không đủ cười để thành vui”

“Mắt tìm một chỗ đậu cứ trượt mãi trên rêu trên khói”.

Không phải chỉ một đêm tụ tập nhậu nhẹt câm lặng mà đã là một con số khủng khiếp:

“Buổi sáng thứ một nghìn năm trăm mười hai”. Mà
“Lúc ra về chớm hỏi, tối qua có ai say ?
Chới với câu rơi phía gót người”.

Lớp trẻ bây giờ như thế đó, nhậu nhẹt với nhau hàng nghìn lần thì cứ nhậu nhẹt nào có để ý đến ai đâu. Thử hỏi có ai không hoang mang sợ hãi những điều như thế.
Nguyễn Ngọc Tư hoang mang sợ hãi đến nỗi dù chị có một ngôi nhà nhưng không bao giờ dám mời ai tới đó vì:

“Không thể đeo mặt nạ
Không thể nói lời xa lạ”
Và ở đó chỉ có:
“Hoa sứ sân sau nở ngậm ngùi
Chỉ một người ngồi ngắm
Tôi không bóng
Ngủ sâu không ai gọi
Say nắng không ai lay
Không ai dắt tay qua ác mộng ngày”

Và còn đau xót hơn:

“Máu chảy tự khô, vết đau tự liếm láp, hát tự nghe
Trong ngôi nhà khép cửa”.

Sao Nguyễn Ngọc Tư lại độc ác với chính mình đến thế khi chị dùng hai từ “liếm láp”. Vết đau tự liếm láp cho vết đau, hay liếm láp là động từ thường dùng của loài vật khi bị thương. Bởi có lẽ chị không coi mình là con người nữa khi phải sống trong cảnh đọạ đầy như thế.
Giờ tôi muốn nói đôi điều khi đọc: “Viêng – xay mùa đông” đây là một bài thơ mà việc sử dụng ngôn ngữ đã được sàng lọc, đã được tối giản đến độ tinh tế và tài hoa, đã là sự vụt sáng của thiên tài thơ. “Tôi về mùa đông” câu thơ tưởng như hụt hẫng nhưng như thế lại vừa đủ. Người đọc đã thấu hiểu được tất cả. Tiếp đến là hai câu thơ tả thực mà từ “vẫn” là để khẳng định sự tồn tại của bếp lửa bên đường không phải chỉ hôm nay, hôm qua, suốt cả mùa đông mà phải hiểu nó đã tồn tại ở đây bao nhiêu mùa đông trước. Với một điều vô cùng giản dị:

“Một củ khoai vùi trong tro nóng hổi”.

Ta thật sự giật mình và kinh ngạc khi đọc câu thơ:

“Nụ cười người lạ cháy xoè trên môi”.

Ôi ! Nụ cười ấy chỉ kịp “cháy xoè” rồi phụt tắt. Rồi kiếp người cứ chìm sâu trong câm lặng, trong cái rét mướt đến vô cùng, vô tận của mùa đông ở Viêng-xay. Chỉ có Nguyễn Ngọc Tư mới dám sử dụng hai từ “cháy xoè” ấy cho một nụ cười. Còn “Đứa trẻ giương nạng thun bắn vào đá núi” lại là một câu thơ tả thực nhưng làm cho ta vô cùng lo âu. Sao đứa trẻ không bắn vào một vật gì đó như con chim, con sâu, con kiến mà lại bắn vào đá núi. Một viên sỏi con để chọi với đá núi thì sự vô vọng đến tận cùng của sự vô vọng. Hình hài của đứa trẻ: “Nước mũi như tuôn từ mùa trước, chảy ròng”. Là một câu thơ tả thực nhưng cái đắc địa của câu thơ là ở hai từ “mùa trước”. Mùa trước cho ta hiểu nước mũi như tuôn chảy ròng của đứa trẻ là một căn bệnh mãn tính, kinh niên. Mùa trước chưa hẳn là mùa thu, mùa hè, mùa xuân hay mùa đông năm trước. Ta phải hiểu mùa trước là cái mùa mà đứa trẻ được đầu thai rồi sinh ra trên mảnh đất Viêng-xay. Mùa trước đã cách đây bao nhiêu mùa ta không thể biết vì đứa trẻ ở đây không có tuổi. Trong cái mùa đông lạnh cóng ở Viêng-xay Nguyễn Ngọc Tư đã nghĩ rằng đây không còn là sự sống mà đã như:

“Có phải cái chết cũng gần giống vậy”.

Còn bao nhiêu bài thơ nữa mà Nguyễn Ngọc Tư muốn gửi đến cho ta một thông điệp đó là nỗi cô đơn và vô cảm của cõi người đã đến lúc phải báo động. Như thư biên tập đã đánh giá “Thơ Nguyễn Ngọc Tư là sự ám ảnh bí ẩn” tôi hoàn toàn tin tưởng vào điều đó. Bởi thực sự thơ Nguyễn Ngọc Tư đã ám ảnh tôi trong suốt thời gian qua kể từ khi tôi được đọc những bài văn xuôi của chị trên tạp chí thơ. Phải chăng sự ám ảnh bí ẩn đó được bắt nguồn từ nỗi hoang mang và sợ hãi thế giới cô đơn và vô cảm của chị lại được bắt nguồn từ tình yêu con người, từ tình yêu cánh đồng bất tận, từ tình yêu đất nước./.

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *