logo

ĐỌC THƠ NGUYỄN KHOAÍ

PHẦN 1 : TRẢ BÙA
Nguyễn khoái sinh năm 1947 tại Ý Yên Nan Định. Năm 1963 khi chưa hết tuổi vị thành niên Nguyễn Khoái đã xung phong nhập ngũ lên đường vào Nam chiến đấu. Ôi tuổi 16–Tuổi thiếu niên dòng máu yêu nước căm thù giặc ngoại xâm được truyền từ người thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản đã chảy trong con người Nguyễn khoái. Đọc Nguyễn Khoái tôi lại nghĩ về anh cả và anh hai tôi cũng đã lên đường cứu nước năm vừa tròn 16 tuổi trong kháng chiến chống Pháp. Để rồi qua đạn bom máu lửa anh cả tôi về hưu với hàm đại tá. Còn anh hai tôi thì trở thành đạo diễn điện ảnh nghệ sỹ ưu tú Xuân Sơn. Đó là thời đại của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng.
Còn Nguyễn Khoái thì sao ? Ông đã tham gia chiến dịch Mậu Thân, chiến dịch Nam Lào 1971. Đã là hội viên Hội Văn Nghệ Giải Phóng trong những năm đầu chống Mỹ. Trở về đời thường học đại học rồi công tác tại Thái Nguyên và trở thành thi sỹ-Môt thi sỹ tuy chưa thể nói là tài hoa nhưng thơ Nguyễn Khoái đã để lại dấu ấn đẫm nét trong công chúng bạn đọc ở Thái Nguyên và trong cả nước. Đến nay Nguyễn Khoái đã có 5 tập thơ được xuất bản. Tôi không có may mắn được đọc toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Khoái mà chỉ được đọc hai tập thơ mới nhất đều do NXB HNV cấp giấy phép đó là: Trả bùa -2015 và Lập đông -2016 sau khi tôi được gặp lại ông trên cõi ảo. Nói gặp lại có nghĩa là trước đây tôi đã được gặp ông trong đời. Cách đây đã lâu lắm rồi từ ngày thị xã Bắc Ninh như có nhà thơ đã viết:

“Xưa đây là thị xã đèn dầu
Phố lép kẹp bám dài theo quốc lộ”( Huy Phách )

Hồi ấy ở thị xã Bắc Nình xuất hiện nhóm thơ Tình Chiều đã vang bóng một thời. Gồm 7 thi nhân 5 nam và 2 nữ. Gọi là Tình Chiều nhưng thơ họ dạt dào đắm say lắm lắm. Chính vì thế mà những thi nhân mặc khách khắp mọi miền gọi họ bằng cái tên khá vì nể – Nhóm Thất Tinh. Ngày nay nhóm thơ không tồn tại. 5 nam thi nhân đã đi vào cõi vĩnh hằng hoá thân thành những ngôi sao trong vũ trụ. Còn 2 nữ thi nhân còn nặng nợ với trần gian gập ghềnh gió bụi “Hữu xạ tự nhiên hương”. Từ Thái Nguyên Nguyễn Khoái đã nhiều lần dẫn các thi nhân mặc khách giao lưu với nhóm thơ Tình Chiều. Tôi biết ông từ đó vì tôi là khách mời thường xuyên của nhóm Tình Chiều. Giờ được gặp ông trên cõi ảo có thể coi là sự kỳ diệu của facebook.
Thơ Nguyễn Khoái ít viết về mặt trái cuộc đời. Có chăng cũng rất nhẹ nhàng chừng mực, không đao to búa lớn. Có lẽ vì thế mà những bài thơ ông viết về nỗi đau chiến tranh lại có sức lay động cảm hoá được người đọc. Nguyễn Khoái cứ chắt chiu gom nhặt và khám phá những vẻ đẹp trinh nguyên đang trầm ẩn trong cuộc sống vẫn còn lắm mất mát đau thương, oan trái lọc lừa.
Thơ ông đã bồi đắp cho tâm hồn tôi dòng phù sa tươi mát của cuộc đời, thắp thêm trong tôi ngọn lửa tình yêu cuộc sống. Đã mang đến cho tôi những giá trị nhân văn cao đẹp ,những giá trị thẩm mỹ thi ca đích thực.
Với thể loại lục bát của Nguyễn Khoái rất nhuần nhuyễn luôn tìm kiếm sự cách tân và tôi ghi nhận sự cách tân đã có hiệu quả nghệ thuật rất cao.
Thơ Nguyễn Khoái thì dài rộng và thẳm sâu mà cảm xúc và trí tuệ của tôi lại là hữu hạn. Với hai tập thơ gồm 119 bài mà chỉ gói gọn trong một bài cảm nhận thì nói sao cho hết được thơ ông. Tôi chỉ như con chim tìm hạt trên cánh đồng thơ mà Nguyễn Khoái đã gieo trồng. Cũng xin làm một tha nhân cứ thế lãng du trong hai tập thơ để tìm nhặt những mạt vàng, những bài thơ những câu thơ hay để dâng tặng người đọc và cùng nhau suy ngẩm.
Tôi xin được bắt đầu với bài thơ Mùa gieo hạt. Mùa gieo hạt nhưng không phải là hạt lúa, hạt ngô, hạt vừng, hạt đậu.Ta phải hiểu đây là hạt mầm của yêu thương và khát vọng. Những hạt mầm ấy đã được ủ từ trong phôi thai, rồi cứ thế lớn lên mẩy chín trong em qua những tháng năm. Ngôn ngữ thơ ở đây vừa ngọt ngào và cũng nhiều hư ảo, phi lý:

“ Những hạt mầm em rắc vào đêm
Lúc sao mọc trên trời xanh thẫm
Thành tre trúc bốn mùa anh mắc võng
Hoá lụa hồng may áo cưới cô dâu”

Hổi có gì đẹp và cũng rất nhiều khát vọng đắm say như thế – Những hạt mầm yêu thương ấy lại được gieo vào trái tim, tâm hồn thi nhân để”

“ Những hạt mầm ủ chin trong tôi
Gieo trong bão trong bom gầm đạn xé
Để non mãi những búp hồng tươi trẻ
Cho vững bền bãi đất, dòng sông”

Một tâm hồn thi sỹ đã được luyện tôi trong máu lửa chiến tranh. Người lính ấy đã là hội viên Hội Văn Nghệ Giải Phóng. Trở về đời thường thơ ông lại càng hào sảng và cháy mãi không nguôi một niềm tin về sự trường tồn của giang sơn đất nước. Và những hạt mầm tình yêu đã gieo xuống mãi mãi sinh sôi cho đến muôn đời:

“Mùa gieo hạt mùa yêu nhau thắm thiết
Cứ truyền đời như thế phải không em”

( Mùa gieo hạt )

Vâng mùa yêu thương cứ thế sinh tồn cùng đất trời cùng giang sơn tổ quốc. Cho nhân loại sinh tồn trong ấp ủ yêu thương của tình người.
Với bài thơ Trắng Đêm ta cảm nhận được sự tài hoa và mận cảm trong thể loại lục bát biến thể của Nguyễn Khoài bởi vì cung bậc cảm xúc ở đây có lúc gấp gáp có lúc khoan thai. Trong một đêm trắng hai con người hai trái tim đã đến với nhau và giải thoát cho nhau bằng tình yêu tuy có muộn mằn nhưng bão liệt:

“Ta về
Trả áo cho chùa
Trả kinh cho Phật
Giải bùa
Giữa đêm
Bởi vì
Hôm ấy anh lên
Mắt nào trong mắt đen huyền hở anh ?”

Dù đã trải qua giông bão, trải qua chia ly nhưng tất cả vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu:

“Trắng đêm
Em
Trắng đêm
Anh
Còn may
Trinh trắng vẫn giành cho nhau”

Anh và em đã tự nguyện đến với nhau trả áo, trả kinh và giải cả lá bùa mệnh số. Họ không cần phải lễ nghi không cần cưới xin chỉ cần tình yêu:

“Cũng đừng cheo lệ đón dâu
Cũng đừng sắp cỗ mà đau cả làng”

Tôi cảm thấy vừa mừng vừa thương cho những lứa đôi được giải thoát khỏi những ràng buộc oan khiên. Nhưng khi đọc mấy câu thơ sau tôi cứ nghèn nghẹn trong lòng vì có điều gì như là sự trốn chạy số mệnh cuộc đời:

“Qua sông cứ lặng lẽ sang
Rì rầm
Cơn gió nhỡ nhàng
Trắng đêm”

( Trắng đêm )

Bài thơ đã khép lại rồi mà tôi vẫn nhìn thấy đôi trai gái cứ dìu nhau chạy trốn cho hết cả một đêm thức trắng để bảo vệ tình yêu vừa giành được.
Nguyễn Khoái luôn nhìn cuộc đời hiện tại bằng một lăng kính màu xanh rời rợi. Nói như thế không phải Nguyễn khoái không nhìn thấy những mặt trái của cuộc sống. Nhưng có lẽ theo ông thi ca khác với báo chí. Đã là thơ thì chỉ tôn thờ cái đẹp. Nhiều khi đó chỉ là cái dang dở của tình yêu đôi lứa.
Ông đã viết về xứ Thanh bằng những câu thơ trong sáng giản dị. Chỉ mấy câu thơ và với một số từ tối giản Nguyễn Khoái cũng đã nói được một điều gì đó rất riêng của xứ Thanh thanh bình yên ả:

“TRở lại quê Thanh
Sáng xuân nay
Đào hơi se lạnh
Gió hơi gầy
Ai về
Giăng mắc vùng quê ấy
Sông Mã
Rập rờn gió xanh mây”

( Quê Thanh )

Ghi ta Văn Vượng, là bài thơ nhiều yếu tố tả thực về sức chinh phục của nghệ thuật mà ở đây là tiếng đàn ghi ta của một thương binh bị mù trong một thôn xóm bình yên:

“Nghe thăm thẳm cuối hàng tre
Một làn gió bấc tràn về mênh mông
Căn phòng
Vâng
Chỉ căn phòng
Cũng làm ra gió bâng khuâng chốn này”

Điều gì và ai đã làm ra thứ gió kỳ diệu để cả xóm thôn phải bâng khuâng:

“Nhập đồng
Vào những ngón tay
Và đôi mắt chẳng thấy ngày thấy đêm”

Tiếng đàn như đã hoá thân để lay động đến tận trong sâu thẳm hồn người:

“Nhưng làm nhoi nhói con tim
Hình như tiếng mẹ đang tìm gọi tôi”

Sức cảm hoá của tiếng đàn và nhịp điệu của nó được bắt nguồn từ sự sáng tạo nghệ thuật của một con tim, tâm hồn đẫ hiến trọn tuổi thanh xuân và cả ánh sáng đôi mắt cho sự bình yên của đất nước. Chiến tranh dù đã qua đi mà sao tiếng đàn ấy cứ vang vọng mãi nhịp quân hành:

“Thuyền chài gõ nhịp xa xôi
Quân đi rầm rập
Người ơi ới người
Cứ trậm trật quãng cung vơi
Lại như hực hỡ bên trời bão giông”

Để có được tiếng đàn lay thức cả một vùng quê người thương binh ấy đã chắt nó ra từ trong trái tim vẫn dạt dào niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp:

“ Nhìn đời bằng trái tim hồng”

Khác hẳn với bao nhiêu kẻ sáng mắt mà lại vô cảm mù loà:

“Có khi mắt sáng
Mà không
Thấy gì”

( Ghi ta Văn Vượng )

Ta bắt gặp trong thơ Nguyễn Khoái những khoảnh khắc xuất thần. Trong Hỡi chiều ông viết:

“Ai chia ta nửa nhọc nhằn
Chia ta nửa tiếng côn trùng gọi đêm
Khẽ như gió sớm cài then
Tóc hương bồ kết
Ưu phiền dịu tan”

Tất cả đều nhẹ thoảng. Ôi làn gió mà biết cài then cho hương thơm bồ kết toả ra từ mái tóc không bay đi mất mà làm dịu đi, tan đi mọi ưu tư muộn phiền. Không kìm được lòng mình thi nhân đã:

“Và ta ghì, nén man man
Ta ràn rạt phía bờ hoang. Hỡi chiều”

Chỉ thoáng thôi một vẻ đẹp của người thiếu phụ( Chắc thế )vì ở vào tuổi thất thập tôi tin Nguyễn Khoái không mơ tưởng đên vẻ đẹp non tơ. Nhưng đã làm cho người đàn ông thất thập ấy:

“Người đâu
Xinh
Đẹp
Thế này
Tốn thơ
Tốn nhạc
Tốn ngày
Ngẩn ngơ”

Bài thơ Ăn trộm thật dí dỏm và cũng thật tài hoa. Ở đây thằng ăn trộm ấy đich thị là “Gã” thi nhân đa tình Nguyễn Khoái:

“Khi em cúi xuống
Hái hoa
Vô tình một thoáng
Nõn nà
Đường cong
Có thằng ăn trộm
Ngượng ngùng
Thản nhiên
Huýt gió
Như không thấy gì”

Không thấy gì sao lại ngượng ngùng? Sự thản nhiên ở đây vừa bao hàm cái giả dối và cũng vừa có sự thoả mạn.
Bài thơ Trả Bùa được tác giả sử dụng để đặt tên cho tập thơ ta hiểu được những điều mà tác giả muốn gửi gắm. Ở đời này có biết bao nhiêu thứ bùa ngải. Với Nguyễn Khoái thì bùa yêu là thứ bùa có sức nặng ngàn cân. Một lá bùa mỏng manh mà nặng như chì thì thật phi lý. Nhưng điều đó đã lý giải chỉ có tình yêu là mạnh liệt vì như nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết “Nếu chẳng còn tinh yêu nữa. Thì biết đâu trái đất đã tan rồi” Còn Nguyễn Khoái của chúng ta cũng đã là như thế khi ông lấy tên tập thơ của mình là Trả bùa. Một sự tình cờ bâng quơ hay đây là có chủ ý ta không thể biết:

“Ai người rơi nửa lá bùa
Tôi xin trả lại
Không mua bán gì
Lá bùa sao nặng như chì
Đố ai biết được có gì ở trong”

Đặt ra câu hỏi nhưng rồi lại tự giải đáp điều dó có nghĩa thi nhân là người trong cuộc và cái người đánh rơi nửa lá bùa ấy cũng là người trong cuộc và họ đã bỏ bùa cho nhau:

“Hình như là nhớ và mong
Xế chiều lỡ mối tơ hồng chi đây
Hình như có gió mây bay
Nỗi đêm đắng đót
Nỗi ngày buồn tê
Lòng tin đau đáu câu thề
Thản nhiên có kẻ bên lề phản nhau”

Đọc khổ thơ ta thấy sự tin yêu sự ngờ vực cứ chùm lấp lên nhau chính vì thế mà họ phải dùng đến bùa mê thuốc lú để chiếm đoạt cho bằng được người mình yêu. Nỗi nhớ, gió mây mà sao một nửa lá bùa ấy lại nặng như chì ? Chỉ có thể lý giải đó là sức nặng tâm linh của tình yêu vĩnh hằng. Chính vì thế sức nặng của lá bùa ở đây đã:

“ Dẫu là chưa thắm buồng cau
Lá bùa rơi
Nửa nhịp cầu
Cũng tan”

Những năm kháng chiến chống Mỹ để nhận được lá thư nhà của người thân yêu nhiều khi chỉ là ước mơ và khát vọng. Nhưng có những lúc nhận được thư rồi chưa hẳn đã là sự bình yên:

“Thư đến
Có làn hương thơm tóc
Ghì,nhớ anh nhiều…em đợi trông
Bỗng uỳnh oàng lửa trên trời xuống
Câu thơ vỡ toác trái tim hồng”

Lá thư thời chống mỹ đã phải vượt qua bao không gian và qua bao thời gian thế mà vẫn đọng mãi trong đó làn hương của mái tóc và cả nỗi nhớ thương. Ta mới thấy hết sự phi lý của thi ca
Con người ta là vậy có khi sấm chớp, gió mưa giông bão cũng không đánh thức nổi một tý chút cảm xúc hay phản ứng thông thường. Thế mà chỉ một bóng dáng thoảng qua cũng đã làm biến động những cảm xúc lớn lao trong lòng thi nhân. Vâng chỉ có tình người là thuộc về sự kỳ diệu:

“Em đi qua để lại cái xao lòng
Như hơi thở cho mùa xuân thức dậy
Để anh gọi về miền quê ấy
Có một thời ta đã trẻ trung
Đánh thức mùa đông, đánh thức cái nao lòng
Mây xốp trắng nàng Bân vừa đi khuất
Chỉ còn lại mênh mông trời đất
Phút giao mùa, ai nhớ đến ai không ?”

Con người ta thường sống bằng kỷ niệm và chỉ có kỷ niệm là tồn tại. Chỉ là con cà cuống của tuổi thơ mà sao cứ sống mãi làm cho ta quay quắt nỗi nhớ. Nhiều khi thơ có cần chi phải to tát lắm đâu nó vẫn gợi nhớ trong ta cả một miền dĩ vãng:

“Em ơi
Chốn ấy ta về
Con cà cuống nướng
Cay xè đến nay”

Và sự kỳ diệu:

“Cái ô mượn của gió mây
Mà che chút nắng
Mà ngây ngất tình”

Có những câu thơ thật đa tình:

“ Dòng sông Bưởi
Đoạn thượng nguồn
Lỗi qua
Khéo ướt
Váy Mường
Em ơi”

Cái tinh quái ở đây chính là hai từ “Khéo ướt” nhắc nhở vậy cho em kéo cao váy lên để chàng trai nhìn trộm…Thực ra các cô gái vùng cao khi qua suối bao giờ váy cũng được vén lên theo chiều sâu của nước. Nước càng sâu thì váy càng cao và các chàng trai chỉ ngắm được cái xập xoà của sóng nước mà thôi. Chỉ thế thôi ta cũng cảm nhận được vẻ đẹp của thi ca.
Qua cầu Lạc Quần. Vâng có lẽ đó chỉ là cái tên gọi thông thường như bao nhiêu tên gọi khác ở trên đời .Chữ lạc hay chữ quần có thể là mang một ý tứ khác. Nhưng các nhà thơ bao giờ cũng vô cùng tinh quái để gửi gắm vào đó một ý tứ và nhiều khi là cả sự khát vọng. Ta hãy đọc mấy câu thơ vừa dí dỏm và cũng rất nhiều đắm đuối:

“Cái ngày đất chửa bình yên
Cầu kia chưa bắc đã tên ấy rồi
Lạc khăn
Lạc áo
Lạc người
Tình yêu
Lạc đến với đời khát yêu
Lạc quần
Rơi lặng vào chiều
Tan trong hoang hoải bao điều gió bay”

Có cần phải bình luận thêm không nhỉ. Vì sao lại có chuyện lạc quần ? vâng vì thế tất cả đã tan đi trong gió mưa hoang hoải.
Đôi dép hồng .Chỉ một đôi dép màu hồng của cháu bỏ lại chẳng hiểu do vô tình hay cố ý đã nói được cái tình người thật sâu nặng biết bao. Tuổi gìa thường có cảm giác cô đơn nên thường trân trọng những kỷ niệm. Chỉ là đôi dép bỏ quên mà biết bao nhiêu cảm xúc dâng đầy trong từng câu thơ:

“Cháu đã về Hà Nội
Bỏ quên đôi dép hồng
Hình như trong phòng khách
Nhú lên đôi lá mầm
Sáng chiều ông qua đây
Cháu bước đi lẫm chẫm
Vỗ tay cười yêu lắm
Thơm ông đi, thơm nào
Định gửi dép cho cháu
Bà bảo rằng : Không,không
Con cò ơi bà hát
Gửi nhớ cho dép hồng”

PHẦN 2: LẬP ĐÔNG

Lúa Vàng – bài thơ viết về mùa gặt ở một làng quê thật đẹp, một vẻ đẹp viên mạn tròn đầy lại vừa mộng mơ hư ảo và cứ cháy lên một niềm khát vọng qua từng câu thơ:

“Lúa vàng
Nón trắng
Nhấp nhô
Vai tròn lấp loá
Mấy cô gái làng
Mắt đen lay láy hớp hồn
Chạm nhau
Chớp giật
Mưa nguồn
Mắt ơi”

Vẫn chưa hết. Thi nhân đã bị hớp hồn và cứ ngơ ngẩn nhìn theo:

“Bắp chân tròn, bông lúa rơi
Anh nhặt tìm chút hương trời, hương quê”

Nhặt bông lúa rơi hay nhặt cái bắp chân tròn ta không thể biết. Chỉ biết sự lãng mạn đã đi đến tận cùng. Hương trời, hương quê đọng cả vào bông lúa rơi, đọng cả vào bắp chân tròn căng của người thôn nữ.
Và những thi ảnh đẹp đến mê hòn cứ hiện lên trong thơ Nguyễn Khoái:

“Rung rinh, em gánh lúa về
Khuất rồi
Nón Trắng
Bờ tre
Khuất rồi
Sợi vàng bông lúa người ơi
Anh mang đi đến cuối trời yêu thương”

Hai chữ khuất rồi đặt trong một câu thơ đã diễn tả đủ đầy nhất về sự tiếc nuối chủ thi nhân. Hai câu kết đã đọng lại tính nhân văn cao cả của thi ca. Hay nói khác đi là thế giới văn học của Nguyễn Khoái.
Đất nước ta đã có một thời như thơ Nguyễn Khoái đã viết:

“Đất nước ơi!
Thuở hào hùng
Mỗi người hoá ngọn đuốc hồng
Cháy lên”

Đó là thời đại của chú nghĩa anh hùng Cách mạng.
Thế là hết, bài thơ viết về một cô gái làng xinh đẹp nỗi khát khao của bao chàng trai trong đó có cả kẻ sy tình – Thi nhân, đã đi lấy chồng .Hình tượng kéo cành rào lấp lại trước cổng ngõ rất mới:

“Cứ mỗi lần khi cành rào rấp lại
Có một người lặng lẽ đứng nhìn theo
Cành rào nhỏ bước qua dễ dãi
Mà bỗng dưng hoá biển hoá đèo”

Hình tượng cành rào cũng như hình tượng “Cái rặng mồng tơi” của Nguyễn Bính. Vâng chỉ là cái rặng mồng tơi, chỉ là cành rào nhỏ mà không thể vượt qua thì nỗi đau chia biệt mới có cái giá của nó.
Bi Kịch là bài thơ viết về chính sự bi kịch của tình yêu. Từ một hiện tượng của tạo hoá, loài ong đực sau khi giao hoan với ong chúa và con bọ ngựa đực sau khi giao hoan vơi con cái đã phải trả giá khủng khiếp bằng chính cuộc đời của mình. Liệu trong tình yêu lứa đôi của con người có phải trả gía như thế không ? Nguyễn Khoái chưa thể khẳng định. Để thật thấu hiểu tôi xin trích toàn bộ hai bài thơ:

“ Khi chú ong cố vút khỏi đàn
Để bám được vào lưng ong chúa
Ấy là lúc chẳng còn gì nói nữa
Ngây ngất say cùng nắng núi,mây ngàn
Sự việc này,cái không bình thường
Là sau phút ái ân cùng với chúa
Chú ong nọ chẳng bao giờ về nữa
Chẳng bao giờ nhìn lại được rừng xanh
Lũ ong thua trong cuộ giao tranh
Lại cần mận với trời cao đất rộng
Hai thái cực rõ ràng chết,sống
Của đất trời nghiệt ngã thế,hỡi em ;
Anh không muốn thua trong cuộc giao tranh
Nhưng lại sợ bám được vào ong chúa
Luật nào vậy hỡi đàn ong nhỏ bé
Khúc lạc hoan bi kịch của muôn loài”

Và đây nữa là số phận nghiệt ngã của con bõ ngựa đực cũng đã được Nguyễn Khoái quan sát tỷ mỷ và đưa ra những điều luận bàn. Tôi cũng xin được giới thiệu trọn vẹn bài thơ.

LUẬT RỪNG

Sau phút ái ân trên cây khế hoa vàng
Nàng bọ ngựa rung đầu mãn nguyện
Đôi gươm sắt ken đầy gai nhọn
Ghì chặt chàng,nàng vào nhau
Rồi bất ngờ nàng tung cánh về sau
Nhát gươm siết ,đầu chàng lìa khỏi cổ
Hàm răng thép,cắt chàng thành mảnh nhỏ
Nàng thản nhiên xơi thịt người tình
Khi hiến dâng nuôi dòng giống cho mình
Chàng có biết đoạn đầu đài sau đó
Luật rừng viết trên ngàn trang giấy cỏ
Luật không văn mà nghiêm phép thi hành
Có điều gì em muốn nói cùng anh
Khủng khiếp thế thôi đừng yêu nữa nhé
Nhưng không yêu ấy là điều không thể
Khi muôn loài vẫn hối hả sinh sôi
Và sự đời
Chỉ đơn giản thế thôi.

Liệu có đơn giản được như thế không hỡi thi nhân và hỡi các bạn. Mỗi người tự tìm cho mình một lời giải đáp qua sự nếm trải của chính mình. Hai bài thơ nói về tình yêu và sự dâng hiến của loài vật đã để lại trong ta nhiều suy ngẫm
Có những lúc thơ Nguyễn Khoái cũng rất đại ngôn nói khác đi là rất phi lý như mấy câu thơ này chẳng hạn:

“Thuở em má lúm đồng tiền
Ai chờ nát cỏ ở bên nhiên nhà
Thưở em mười tám nết na
Bão giông say đổ cây đa đầu làng”

Chính sự đại ngôn,sự phi lý đó đã nói lên được sức mạnh mê hoặc của tuổi thanh xuân. Đọc những câu thơ như thế ta thấy yêu hơn tất cả cuộc sống quanh ta.
Vẻ đẹp của con người và đất trời Đà Lạt được gói trọn trong mấy từ:

“Gió mềm
Uốn gãy
Câu thơ
Tóc buông
Sóng
Vỡ tan hồ
Xuân Hương”

Ở nhiều bài thơ lục bát khác Nguyễn Khoái đã rất tài hoa trong cách ngắt dòng nhưng ở bài thơ này thì Nguyễn Khoái đã quá lãm dụng vì thế nó làm giảm đi cái mơ màng hư ảo của Đà Lạt.
Bài: Thơ ở thị trường là sự trăn trở về thơ trong cơ chế kinh tế thị trường:

“Thời thị trường như chẳng có đêm
Thời sắc đẹp lên ngôi hoàng hậu
Con rắn,con cua bò vào tiệc nhậu
Thơ kinh hoàng – máu thẫm – mặt đường say”

Nhưng với Nguyễn Khoái vẫn giành một khoảng trời riêng cho thơ của mình:

“Qua cái khát, cái say như cháy cổ
Ta mới láng máng còn một giếng nước, bờ tre
Chiêm chíp tổ chim, lắng đọng trưa hè
Thơ như thể dòng sông ta tắm mát
Ta bỏ túi một câu lục bát
Đi gữa thị trường
Đi đến ngày mai”

Dù năm nay đã cận kề vởi cổ lai hy mà vắng vợ, vắng em thì nỗi nhớ trong Nguyễn Khoải vẫn luôn mang đẫm dấu ấn của tình yêu như thuở đầu đời:

“Đêm đêm
Giường ngủ
Mình anh thức
Nói lời vơ vẩn
Bóng mình nghe
Xa em – chia nhớ về hai phía
Ngóng đợi đêm đêm
Tiếng em kề
Anh vẫn đa sầu như số mệnh
Vẫn buồn một chút cuối ngày xuân
Trái đất vẫn quay –không ghìm được
Thì có là chi
Lúc xa – gần”

Vâng những chia ly cách trở hình như đã trở thành một quy luật. Chẳng thế mà nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến đã viết:

“ Nếu biết tình yêu là tội lỗi
Thà xin chờ kiếp khác để đầu thai
Nếu biết chia ly không tránh khỏi
Thà cho tôi thẳng bước xuống tuyền đài”

Sự va đập trong tự nhiên, trong cõi người đã được nhà thơ lý giải bằng chính sự va đập của tình yêu đôi lứa – Một sự va đập để sinh tồn:

“Khi riêng trời, riêng gió, riêng ta
Căn phòng ấm như tiếng người thương nhớ
Ta lại đợi nụ mầm tách nhú
Cho những hồn đời va đập vào nhau”

PHẦN 3 – NHỮNG BÀI THƠ MANG NẶNG NỖI NIỀM

Như trên tôi đã nói thơ Nguyễn Khoái ít viết về nỗi niềm dâu bể đa đoan. Ít thôi chứ không phải không viết, Ở mảng đề tài này Nguyễn Khoái không đao to búa lớn mà đi tìm những hiện thực khách quan. Có lẽ vì thế yếu tố văn xuôi thường đẫm đặc trong thơ Nguyễn Khoái. Có bài thơ là một câu chuyện có thực trong đời được kể lại bằng ngôn ngữ thơ. Khoảng Lặng và Như chuyện cổ tích là những bài thơ như thế.
Nguyễn Khoái đã từng là người lính nên khi viết về nỗi đau chiến tranh thường có sức nặng ám ảnh. Trở về cuộc sống đời thường anh may mắn hơn bao đồng đội khác. Anh đã đi nhiều nơi để tìm gặp những người vợ liệt sỹ là đồng đội của mình và đã có những câu chuyện làm đau nhói lòng ta và hơn thế nữa làm cho ta phải phẫn nộ vì cái nhỏ nhen ti tiện của những kẻ vô học:

“Hoà bình về thăm nhà bạn
Hỏi hoài, gặp được chị đây
Chị khóc, tiếng ghìm nén lại
Tấm tức nén trong đêm dày
Chị kể: bao nhiêu thư ảnh
Anh gửi về từ Tà Cơn
Chồng mới, lén mang đốt sạch
Tro tàn một thuở Trường Sơn”

Thế đó các bạn ạ trong cõi người vẫn còn những kẻ dốt nát đố kị như thế. Ghen tức với cả những báu vật của người lình. Sự khốn nạn đã tận cùng của sự khốn nạn. Trong cảnh đó hai mẹ con người vợ liệt sỹ chỉ biết:

“Con gái của người liệt sỹ
Thấy mẹ héo rũ không hồn
Cắn răng, ghì vai mẹ khóc
Xa mờ, khoảng lặng, cô đơn”

Trong chiến tranh chống Mỹ trên đường hành quân vào Nam các chiến sỹ đã nhiều lúc phải ngủ trong hang đá và nhiều người đã muốn gửi lại cho những người lính đến sau một thông điệp nào đó như một cái tên của mẹ cha đã đặt cho mình mong sao trong muôn một gặp được những người bạn, người thân. Nguyễn Khoái cũng đã có được sự tình cờ kỳ diệu đó và những câu thơ của ông đã thực sự làm tim ta phải đau nhói:

“Những người lính hành quân về Phương Nam
Trong một lần nghỉ lại
Đã khắc tên mình trên vách đá
……
“Hang đá lạnh dơi bay lít chít
Người lình nào đã về quê hương
Với con sông, quăng chài, kéo lưới
Với đói tháng ba, tháng mười cơm mới
Người lính nào đã ngã xuống ở Lào Ngam
Những cái tên trong hang đá chiều hôm
Có tên gọi người bạn tôi thân thuộc
Có thể chỉ là ngẫu nhiên thôi
Tôi rưng rưng và khẽ gọi Sự ơi
Anh đã chẳng còn gì để lại
Chỉ tĩnh lặng một dòng tên khắc vội
Không có hương hoa khi tháng bảy về…”

Rồi Nguyễn Khoái đã nhắc nhở chúng ta về nỗi đau không thể nào quên:

“Những thập kỷ chiến tranh cứ tĩnh lặng qua đi
Cái vệt khắc trong hang chiều biết nói”

Vâng chỉ còn lại vệt khắc trong hang thôi chứ không phải là hàng chữ vàng ghi công cũng đã nói với ta bao điều về nỗi đau chiến tranh. Người chết đã vậy còn người sống sót trở về thương tật đầy mình đang vật lộn mưu sinh, thiệt thòi đủ trăm bề vẫn cứ tự an ủi mình:

“Lại ngày đằng đẵng đói nghèo
Mấy lần tặc lưỡi nắng chiều đã buông
Rồi cười,mình vẫn còn hơn
Bao thằng chết có biết đường về không
Nắng mưa dầu dãi trên đồng
Khổ đau thôi nén vào trong mà cười”

Ôi nén khổ đau, nén cái bất công của xã hội vào trong mà cười được ư, có mỉa mai chua chát quá không ???
Đây lại là hình tượng của một người thương binh khác nữa đã hiện lên dưới ngòi bút cảm thông và chia sẻ của Nguyễn Khoái trong bài thơ: Chợ tết chiều nay:

“Phố như là được nhuộm bởi hoa tươi
Anh thương binh trên đôi nạng gỗ
Ngắm cành đào phai rất nhiều lộc nụ
Rồi lặng lẽ đi về phía cuối chiều
Nhà anh đây một mái tranh nghèo
Mấy đứa trẻ ùa ra đón bố
Những cái Tết về trên đôi nạng gỗ
Có bao nhiêu cái tết vắng hoa đào
Chiều cuối năm phố xá ồn ào
Tiếng lộc cộc của đôi nạng gỗ
Chỉ để lại một âm thanh rất nhỏ
Trong dòng người hối hả đón mùa xuân”

Trong xã hội hiện tại có biết bao đại gia sống dư thừa phè phỡn. Sắm chậu hoa tết hàng trăm triệu thế mà những người đã phải đổ máu xương cho cuộc sống này chỉ một cành đào phai thôi cùng chỉ là ước mơ và khát vọng. Phải chăng đây là biểu tượng của một xã hội công bằng dân chủ văn minh như người ta vẫn thường hô hào, rao giảng.
Thơ Nguyễn Khoái còn dài rộng lắm tôi chỉ là một tha nhân lãng du trên cánh đồng thơ của ông tìm nhặt những hạt mầm chắc mẩy mong mang đến một sự sẻ chia và đồng vọng với nhà thơ – người lính.
Rất mong được nhà thơ và các bạn lượng thứ vì tôi không thể nói cho hết cái hay, vẻ đẹp của hai tập thơ mà Nguyễn Khoái đã ưu ái tặng tôi những ngày đầu năm mới Bính Thân ./.

BẮC NINH MÙA XUÂN BÍNH THÂN –NGUYỄN XUÂN DƯƠNG

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *