logo

ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỚI THƠ HAIKU

QUÊ NHÀ

NGUYỄN ĐÌNH XUÂN

Triền đê nắng thu vàng
Mục đồng ê a lưng trâu mộng
Tiếng sáo níu mùa hạ vương

Chỉ ba câu với mười tám từ ngắn gọn ấy ta đã nhìn thấy Quê nhà của thi nhân thật bình yên và lãng mạn. Nắng thu cứ trải vàng trên triền đê tít tắp như muốn vươn dài vươn mãi ra cho đến vô cùng mà ôm ấp và che chở cho những làng quê yên bình, cho những mùa vàng ấm no. Nắng ở đây lại là cái nắng mùa thu chỉ đủ cho người ta cảm thấy ấm áp dịu mềm. Còn gì nữa không ? Trên triền đê trải nắng ấy là những em bé chăn trâu, cắt cỏ lam lủ một đời mà vẫn ê a hát .Điệu hát gì ta không thể biết .Ta chỉ cảm nhận được rằng ẩn chứa trong giọng hát ê a ấy có điều gì thật thơ ngây trong trắng đến diệu kỳ Phải như thế nào em bé mới ê a hát chứ. Đó chính là cuộc sống tương đối đủ đầy. Bát cơm manh áo ở những làng quê bây giờ không còn là nỗi lo thường nhật. Cái giọng ê a ấy chắc phải là một bài hát vui vui mà các em ưa thích. Vì một lẽ nữa các em đang cưỡi trên lưng những con trâu mộng. Hai từ trâu mộng lại thêm một minh chứng về cuộc sống ấm no đủ đầy. Đã qua rồi cái thời những con trâu, con bò gầy dơ xương vì nó chỉ được chăn thả theo tiếng kẻng vô hồn mà khắc nghiệt -Tiếng kẻng hợp tác hóa.
Bình yên lắm mới có tiếng sáo diều. Thật kì diệu khi tiếng sáo diều cũng biết tiếc nuối chút nắng mùa hạ còn vương lại trong khoảnh khắc giao mùa Âm thanh còn biết tơ vương,níu kéo thì con người ở nơi quê nhà của thi nhân họ sống với nhau thuận hòa nhân ái biết dường nào? Vâng một làng quê yên bình chỉ qua có mười tám từ Nếu không tài hoa không thể nào có được.

Mặt hồ nước trong veo
Chiếc lá vàng rụng trong nắng chiều
Theo làn gió đìu hiu

TẠ THỊ YÊN

Mặt hồ nước trong veo cho ta một cảm thức về sự tinh khiết tĩnh lặng. Trong thời hiện đại để có được mặt hồ mà ở đó nước trong veo là vô cùng khan hiếm. Mặt hồ nước trong veo ấy không đơn thuần chỉ là mặt nước mà đẫ trở thành tấm gương phản chiếu cả đất trời để thi nhân soi vào đó mà cảm cho hết mọi vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc đời. Ta nhìn thấy một bầu trời đang bồng bềnh mây trắng in bóng dưới đáy hồ và những hàng cây như đang muốn níu giữ bầu trời ở lại mãi mãi mà bầu bạn.
Và rồi cũng chỉ nhìn mặt hồ ta thấy được một chiếc lá đang rụng xuống sẽ làm xao động nhẹ thôi trong khoảnh khắc mặt gương trong vắt đang nhuộm vàng sắc nắng. Một chiếc lá vàng rụng xuống đã làm xao động cái tĩnh lặng mặt hồ. Bài thơ giờ đây không chỉ đơn thuần sắc màu mà còn có âm thanh của chiếc lá rụng Bởi vì đã biết bao thi nhân bằng năng lực thiên phú đã nghe được cả tiếng lá rơi nghiêng (TĐK).Chiếc lá vàng rơi còn là dấu hiệu của một mùa thu đang về nhắc ta nhớ lại cảnh sắc thu trong thơ cụ Nguyễn Khuyến. Làn gió thì đìu hiu vì thế chỉ làm cho mặt gương gợn nhẹ làn sóng để cho tất cả cảnh sắc trở nên lung linh kì ảo. Chiếc lá vàng rụng xuống rồi nằm lại trên mặt hồ trong veo và được làn gió đìu hiu đẩy đưa cho ta cảm giác đó là con thuyền sẽ chở thi nhân đi vào cõi mộng.
Đọc bài thơ ta khát vọng trên thế gian này dù ở đâu cũng có được những mặt hồ trong veo trong cảnh thanh bình tĩnh lặng để ta có thể quên đi những bươn trải nhọc nhằn những hơn thua được mất trong đời. Được ngồi lại dù chỉ là khoảnh khắc bên bờ hồ trong veo của Tạ Thị Yên mà cảm nhận cho hết vẻ đẹp bình yên của cuộc đời. Vâng đó chỉ là khát vọng !!!.

BUỒN

HÀ QUỐC PHONG

Liễu buồn chờ giọt sương
Chùa buồn chờ thập phương tứ xứ
Tôi buồn chờ con đường.

Buồn của Hà Quốc Phong là nỗi buồn nhân thế. Liễu vốn dĩ là một loài cây gắn chặt với nỗi buồn. Phải vậy chăng khi buồn nỗi khát khao của liễu thật quá mong manh bé mọn cũng đủ đánh thức cũng đủ làm dịu đi nỗi buồn. Chỉ cần một giọt sương thôi cũng làm mát lạnh cả một đời liễu rủ. Liễu là thế suốt đời rủ buồn suốt đời chỉ cần giọt sương mong manh bé mọn mà không cần gì khác nữa. Nhưng với bốn mùa xuân, hạ,thu, đông không phải mùa nào đất trời cũng có sương mà ban phát để tưới nhuần cho liễu. Câu thơ làm cho ta phải nghĩ suy trăn trở về hạnh phúc, niềm vui của cõi người cũng nhỏ bé mong manh như giọt sương mong manh mà nhành liễu đón chờ. Nghĩ thế để ta biết nâng niu niềm vui, hạnh phúc mà may mắn ta có được trong đời.

“Chùa buồn chờ thập phương tứ xứ”

Vẫn chỉ là một nỗi chờ mong vô vọng. Chùa buồn vì không có khách vãng lai, không có khach tứ xứ thế thì còn chờ ai nữa. Ta không hiểu trong muôn một có người khách vãng lai nào không và ngôi chùa cứ thế cô đơn hiu quạnh. Phải chăng ngôi chùa ở đây như một kiếp người. Cũng như ta khi ta cô đơn ta thường muốn được sẻ chia muốn được giãi bày Nhưng cõi người bây giờ đã nhiều vô cảm ta biết chờ ai đợi ai “Ai tri âm đó mặn mà với ai”. Cứ thế ta sống tiếp những ngày như ngôi chùa hoang của Tạ Quốc Phong’

“Tôi buồn chờ con đường”

Con đường đó là con đường nào ??? Con đường đến với hạnh phúc hay khổ đau. Hay con đường đầy ắp kỷ niệm của tình yêu? Con đường là cố định sao thi nhân có thể chờ để nó tự đến với mình đó là một điều phi lí vì thế thi nhân có chờ cho trọn một kiếp người thì rồi vẫn vậy vẫn chỉ là vô vọng đắng cay.
Trên con đường chỉ có những bước chân bươn bả mưu sinh và còn có cả những bước chân nhẹ nhàng của những cặp tình nhân, những bước chân hội ngộ cả những bước chân chia xa để rồi mỗi người mỗi nẻo đi về hai phía của những con đường.
Vâng dù đó là cây liễu rủ, là ngôi chùa hoang hay cõi lòng trống trải của con người thì nỗi buồn đều không thể hóa giải. Cứ thế nó đeo bám lấy cõi người mênh mông sâu thẳm này.
Thơ haiku là thể loại thơ kiệm chữ kiệm lời đến tận cùng tối giản. Đọc nó không chỉ bằng cảm xúc con tim mà còn bằng cảm xúc trí tuệ và trên hết thảy phải có trí tưởng tượng vô biên như vũ trụ (TTL) để đồng sáng tạo với thi nhân ta mới cảm nhận hết cái điều hay và vẻ đẹp của thể loại thơ này. Còn để có được một bài thơ haiku đi được vào lòng người phải là những nhà thơ tài hoa. Dù là người yêu thơ lắm lắm tôi cũng chỉ là người ăn mày câu chữ của các thi nhân để gửi gắm đôi điều suy ngẫm mà không thể nói hết được điều hay vẻ đẹp của ba bài thơ mà tôi giới thiệu. Rất mong các thi nhân và bạn đọc lượng thứ ./.

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *