logo

ĐÔI ĐIỀU VỀ THƠ HOÀN NGUYỄN

Tôi vốn là con người đa cảm đã bao lần tôi phải khóc trước những bài thơ của cuộc đời. Lần này nữa khi đọc bài thơ “Nhà không có đàn ông” của Hoàn Nguyễn nước măt tôi cứ trào ra.Tôi tin chắc rằng cảm giác đó không chỉ đến với riêng tôi mà với tất cả những ai còn biết cảm thông, còn biết chia sẻ với những thân phận nghiệt ngã trong cõi người còn lắm đa đoan, còn nhiều dâu bể.
Để có thể tiếp cận và lý giải về sức nặng tâm trạng, sức nặng ám ảnh và khát vọng–một khát vọng bi thương trong thơ Hoàn Nguyễn tôi phải giới thiệu một cách cặn kẽ về bài thơ “Nhà không có đàn ông”-Bài thơ đã được một tờ báo Văn Nghệ ở Cộng Hoà Séc dịch ra hai thứ tiếng: Séc và Anh Điều đó đã minh chứng được rằng“Nhà không có đàn ông” đã lay thức được trái tim trong cõi người.Tôi tin người dịch đã biết cảm thông sâu sắc với những thân phận không riêng gì của nhà thơ Hoàn Nguyễn. Bằng chính thân phận mình Hoàn Nguyễn đã sẻ chia với những thiếu phụ cùng cảnh ngộ
Mở đầu bài thơ Hoàn Nguyễn chỉ mới cảm nhận sự thiếu vắng của người đàn ông qua những công việc vặt vãnh thường ngày:

“Nhà không có đàn ông
điện nước hỏng
đóng cái đinh trên tường
lóng ngóng”

Nhưng rồi khi đọc đến khổ thơ thứ hai nước mắt tôi đã nhoà đi:

“Bữa cơm chiều vắng bóng
Không rượu
Không bia
Không bàn không ghế
Một tô cơm nguội xúc vội bằng thìa”

Vắng bóng ai? Hoàn Nguyễn không viết nhưng ta phải hiểu đó là vắng bóng người đàn ông–người chồng.Thơ Hoàn Nguyễn thường kiệm lời đến mức tối giản như thế. Rồi tất cả đều không: không rượu, không bia vì rượu bia cho ai bây giờ và không cả bàn ghế. Bàn ghế làm gì khi chỉ có “Tô cơm nguội xúc vội bằng thìa”. Cảnh của những thiếu phụ đơn thân là thế đó, cơm nấu một bữa ăn hai. Tôi hình dung trước mắt tôi một người phụ nữ với đôi mắt vô hồn vô cảm cứ nhìn xuống tô cơm mà cũng không biết trong tô cơm ấy có những gì. Chị không dám ngước nhìn lên vì trong căn nhà ấy ở ngóc ngách, xó xỉnh nào cũng lấp đầy nỗi hoang lạnh cô đơn. Với những người như chị ăn bây giờ không phải để thưởng thức, thưởng thụ mà ăn đơn thuần chỉ để sống, để tồn tại. Trước hết là sự tồn tại hoàn toàn sinh học.
Tiến thêm một bước đó là nỗi lo sợ sự bủa bủa vây từ mọi phía của cuộc đời:

“Nhà không có đàn ông
cửa im ỉm đóng
một lỗ tò vò nhìn ra
tối chong đèn sợ ma
trên tường ghi số 113 ;?”

Người phụ nữ đơn thân ấy chỉ dám nhìn ra bên ngoài, nhìn ra cuộc đời bằng cái lỗ tò vò mà thôi. Chị lo sợ nếu mở cửa ra thì bao điều bất trắc sẽ ập đến gieo bão giông lên cuộc đời chị và gia đình chị. Trong tâm trạng ấy số điện thoại khẩn cấp đã trở thành như một cứu cánh. Nhưng con số ấy có cứu được cuộc đời chị không thì ta không thể đoán định.
Nỗi cô đơn cứ thế tăng lên. Hỏi có nỗi cô đơn nào hơn nỗi cô đơn này của mẹ con người quả phụ:

“Nhà không có đàn ông
Mưa giông
Ôm con co ro
Đêm trắng”

Nhưng tôi nghĩ nỗi khổ tâm bất hạnh còn dồn ở câu kết bài thơ:

“Nhà không có đàn ông
Gương soi chẳng thấy mặt người”

Chỉ mấy từ thôi mà nhà thơ đã gửi gắm vào đó biết bao điều để ta suy ngẫm. Người đàn bà đoan chính chỉ làm dáng, làm đẹp cho chồng. Không chồng thì làm dáng, làm đẹp với ai mà soi gương và cái gương đã bị ố mờ. Cũng có thể mỗi lần soi gương thấy khuôn mặt tiều tuỵ của chình mình nước mắt lại nhạt nhoà không thể nhìn thấy mặt mình trong đó
Theo tôi “Nhà không có đàn ông” là bài thơ tự bạch chính thân phận nghiệt ngã của nhà thơ. Điều đó đã giúp ta lý giải được vì sao Hoàn Nguyễn lại đặt tên cho tập thơ của mình là CƯỚI THƠ. Phải chăng trong cõi người không còn người đàn ông nào có thể lấp đầy khoảng trống cho cuộc đời của chị. Đối với Hoàn Nguyễn bây giờ nhiều khi như không tự ý thức được mình đang tồn tại hay không tồn tại. Để có thể khẳng định được sự tồn tại của chính mình Hoàn Nguyễn phải có vật chứng-đó là người chồng không phải thịt xương mà là người chồng bằng tâm hồn bằng cảm xúc. Thật may mắn cho chị và cho cả chúng ta nữa sau số phận nghiệt ngã ông trời đã ban tặng chị thiên chức–Thi sỹ. Hoàn Nguyễn đã biết nương náu, tựa vịn vào thơ mà đứng lên mà tồn tại với đầy đủ ý nghĩa nhất của từ này.
Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết “ Nỗi buồn là ngôi nhà của thơ “ Phải chăng thơ Hoàn Nguyễn đã là như thế. Chị đã và đang ẩn mình trong ngôi nhà đó .
Thơ là sản phẩm mà con người đã sáng tạo ra, tuy nó là phi vật chất nhưng ta nhận diện được nó bằng lời. Đó là văn học truyền miệng. Ta có thể nhận biết bằng mắt. Đó là văn học thành văn. Chính vì nó hữu hình nên Hoàn Nguyễn đã cưới thơ. Thế nhưng không chỉ có Cưới thơ mà nhà thơ có lúc đã như hoàn toàn vô thức. Điều đó đã được thể hiện rõ nhất qua bài thơ có cái tên hoàn toàn tuyệt vọng “LẤY TA NHÉ MÂY ƠI”. Không chỉ lấy thơ làm chồng giờ lại khát vọng lấy mây làm chồng. Phải chăng Hoàn Nguyễn tham lam, hay vì quá cô đơn thơ vẫn chưa lấp đầy sự trống vắng trong tâm hồn, trong cuộc đời nhà thơ:

“ Nhìn mây lơ lửng trời xanh bạc
Ngậm ngùi… thương mình biết bao nhiêu”

Mây biểu trưng cho lang thang vô định chỉ một cơn gió cũng thổi bạt cho mây tan tác nhưng so với những gì còn lại trong đời mình Hoàn Nguyễn vẫn tự thương mình, điều đó đã nói lên sự khao khát được chở che ôm ấp. Ta bắt gặp sự lý giải đến đớn đau:

“Tuổi xuân vừa chấm vai chưa kịp
Gẫy gánh đường duyên một buổi chiều”

Ta không thể lý giải vì sao giữa một vật thể vô tri và con người lại có thể có sự gắn bó và đồng cảm máu thịt đến như thế khi Hoàn Nguyễn viết:

“Tôi vốn yêu mây từ thuở nhỏ
Mơ màng viễn cảnh cuộc tình xa
Bữa tôi khăn gói theo người ấy
Mây hoá mù mưa rớt nhạt nhoà”

Phải chăng cuộc tình này là định mệnh và cuộc tình với con người lại là nghiệp chướng. Có lẽ là như thế điều đó đã gói trong chỉ một câu

“Bữa tôi khăn gói theo người ấy”

Đây là “Theo” thôi chữ theo ấy gieo vào lòng ta một nỗi đau rớm máu. Cứ thế Hoàn Nguyễn đã dắt ta theo những tháng năm cay đắng của người vợ lấy chồng không phải vì yêu. Tôi cứ nghĩ nếu không có sự sẻ chia, đùm bọc của mây liệu Hoàn Nguyễn có vượt qua được những biến cố oan nghiệt trong cuộc hôn nhân này. Chị viết tiếp để như giãi bày với mây lời cảm tạ tình yêu thương của mây với mình:

“Những ngày làm vợ đầy cay đắng
Thương mẹ,mong cha …chỉ khóc thầm
Mây thương hiểu nỗi lòng tôi khổ
Nên hoá dịu dàng suốt tháng năm”

Vẫn chưa hết

“Rồi ngày tôi vấn khăn quả phụ
Mây ốm trùm chăn biệt mấy tuần
Tết mùa năm đó tôi buồn lắm
Cho đến tận giờ chẳng có xuân”

Ta nghĩ gì khi đọc hai câu thơ “Tết mùa năm đó tôi buồn lắm . Cho đến tận giờ chẳng có xuân”. “Mùa năm đó” là mùa nào? Đây là cách chỉ thời gian rất ước lệ vì thế ta không thể biết là năm nào và ta cảm thấy nó xa vời vợi xa như vô cùng. Nếu hôm nay ta đọc câu thơ thì hai từ tận giờ thuộc về thì hiện tại và 10 năm sau hay lâu hơn nữa vẫn là thì hiện tại. Điều đó có nghĩa rằng đối với người thiếu phụ ấy chỉ còn lại là mùa hè nòng nực, mùa thu hiu hắt và mùa đông giá rét lạnh lùng. Mùa xuân của đất trời, mùa xuân của cuộc đời không tồn tại .Đọc hai câu thơ như máu ứa. Rồi người quả phụ đã trào lên một khát vọng bi thương:

“Mùa qua, mùa lại buồn hiu hắt
Tuổi bốn mươi rồi tôi vẫn không
Nhiều khi ngơ ngẩn …tôi thầm ước
Cùng mây …ôm ấp để làm chồng”

Mặc dù trước đây Hoàn Nguyễn đã muốn che đậy nỗi oan nghiệt của đời mình. Nhưng với hai bài thơ “Nhà không có đàn ông” và “Lấy ta nhé mây ơi” đã giúp ta hiểu được hoàn cảnh của nhà thơ và ta hiểu được vì sao Hoàn Nguyễn đã lấy nỗi buồn làm ngôi nhà cho thơ mình, vì sao thơ chị vừa đắm say vừa xót đau và cũng rất nhiều khát vọng, nhưng là một khát vọng bi thương
Tôi thực sự ngỡ ngàng trước tài hoa của sự hoá thân trong thơ Hoàn Nguyễn qua bài thơ “Lấy ta nhé mây ơi”. Có thể khẳng định đây là bài thơ mà cảm xúc đã thăng hoa đến tận cùng, sự phi lý cũng đã tận cùng. Bài thơ như được viết ra bằng những dòng nước mắt và những giọt máu của con tim cô đơn. Đọc những bài thơ như thế ta mới cảm nhận được một cách sâu sắc sức mạnh của thi ca đó là sự lan toả sự truyền dẫn trực tiếp cảm xúc cho người đọc. Dù trái tim có vô cảm giá băng bao nhiêu đi chăng nữa cũng phải mềm lại để cùng sẻ chia đồng vọng với những thân phận nghiệt ngã trong đời./.

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *