logo

GIẤC MƠ PHÙ SA

Như sực tỉnh giấc kê vàng hối hả
Anh lên tàu giáp Tết ngược miền Trung
Chưa hết “mồng” lại ra đi vội vã
Tiễn bước tha phương gió cũng ngại ngùng

Một con mắt hút chân trời trước mặt
Một mắt còn thăm thẳm phía sau lưng
Thương dáng mẹ trăng chiều nhen bếp lửa
Sợi khói lam vờn tóc bạc rưng rưng

Quên sao được mùi rạ rơm thơm thảo
Giun dế mùa tha thiết gọi bình yên
Tai ù đặc bốn phương đời bão nổi
Còn vẳng đâu đây một tiếng chim chuyền

Sao đành bỏ những bờ xôi bãi mật
Nơi hồn cây vía cỏ rất ngoan hiền
Đến bắp ngô non cũng tròn căng sữa
Hôi hổi chờ tay ngỏ ý trao duyên

Xuân ngơ ngác giữa cao tầng, cao tốc
Mắt nhà quê bạc trắng khói thị thành
Vào mê lộ mãi loanh quanh tìm kiếm
Chưa thấy vàng đã mất nửa đời xanh

Dùng dằng gió quật anh về hai phía
Lại cuốn vào cơn lốc xoáy miên man
Nghiêng bóng tháng Giêng đổ vào tháng Chạp
Mơ phù sa sinh nở những mùa màng!

Nguyễn Ngọc Hưng

LỜI BÌNH

Đây không phải bài thơ duy nhất và chắc cũng chưa
phải bài thơ cuối cùng, và nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng
cũng không phải là người duy nhất, viết về những thân
phận, những kiếp người cứ lũ lượt rời bỏ quê hương đi tìm
Giấc Mơ Phù Sa nơi đô thành phố thị. Tôi xin gọi đây là
nạn chảy máu lao động.
Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh cũng đã viết về đề tài
này trong bài “Trên chuyến xe khách”:

“Những “truyền thống”, “tiềm năng” không níu được
chân người ở lại”

Còn Nguyễn Ngọc Hưng cụ thể hóa những truyền
thống tiềm năng đẫm tính nhân văn:

“Đâu cũng cau héo trầu khô cũng
sương gió dãi dầu
Sao không dắt nhau về sống tươi lại
những tháng ba hoa gạo
Xơ xác cỡ nào quê hương cũng là chiếc nôi
thơm thảo
Đủ nồng nàn cho vạn dấu môi hôn”

(Nhặt lại một làn hương)

Nhưng những con người vẫn cứ lũ lượt rời xa đất
nước này, Tổ quốc này, phiêu dạt xứ người để mưu sinh
không ngừng không nghỉ.
Nhà thơ đã từng ước vọng:

“Cố thổ dẫu nghèo nhưng đẹp lắm
Đi đâu cũng nôn nả quay về”

(Xương rồng)

Có thể là như thế! Nhưng là đối với thế hệ xa xưa,
xa lắm rồi, xa lắc xa lơ từ đời kiếp nào. Cái thời mà quê
hương xứ sở: “Mảnh vườn đây – nơi chôn rau cắt rốn của
mình đây” đang là một điều gì đó thuộc về sự thiêng liêng
cao cả. Thế nhưng thời đại bây giờ làm gì còn nơi chôn
rau cắt rốn nữa khi rau thai nhi không được mẹ cha chôn
vào những gốc khế, gốc mít trong vườn của mẹ như ngày
xưa cũ…
Dù nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng có biện minh bao
nhiêu đi chăng nữa, có dẫn dụ bao nhiêu đi chăng nữa
những truyền thống:

“Một con mắt hút chân trời trước mặt
Một mắt còn thăm thẳm phía sau lưng
Thương dáng mẹ trăng chiều nhen bếp lửa
Sợi khói lam vờn tóc bạc rưng rưng

Quên sao được mùi rạ rơm thơm thảo
Giun dế mùa tha thiết gọi bình yên
Tai ù đặc bốn phương đời bão nổi
Còn vẳng đâu đây một tiếng chim chuyền”

Những cơn gió cũng phải ngại ngùng tiễn bước
người đi. Nơi quê hương yêu dấu ấy vẫn mang nặng một
tình thương “Thương dáng mẹ trăng chiều nhen bếp lửa”
và còn bao điều khác nữa vẫn không thể níu kéo bước
chân người ở lại.
Những tiềm năng Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng
muốn nói là tất cả những gì đã gắn bó máu thịt ngàn đời
nay với người nông dân:

“Sao đành bỏ những bờ xôi bãi mật
Nơi hồn cây vía cỏ rất ngoan hiền
Đến bắp ngô non cũng tròn căng sữa
Hôi hổi chờ tay ngỏ ý trao duyên”

Vẫn không níu kéo được chân người ở lại.
Nguyễn Ngọc Hưng nhiều trăn trở, nhiều cảm thông
với những thân phận ra đi tìm kiếm giấc mơ phù sa, giấc
mơ bạc vàng:

“Xuân ngơ ngác giữa cao tầng, cao tốc
Mắt nhà quê bạc trắng khói thị thành
Vào mê lộ mãi loanh quanh tìm kiếm
Chưa thấy vàng đã mất nửa đời xanh”

Đời người là thế, thân phận là thế, nhưng sao cứ phải
biện minh để ra đi. Thực ra không phải là một sự biện
minh, mà chúng ta những người ngoài cuộc, hãy làm một
phép toán so sánh. Dù có là bờ xôi ruộng mật, dù có
những bắp ngô non căng sữa gọi mời, thế nhưng muốn có
được bắp ngô hạt gạo thì phải quần quật với bờ xôi ruộng
mật ba bốn tháng trời, trong khi đó, vài ngày lương ở thị
thành đủ mua gạo cho cả nhà ăn trong cả tháng, một ngày
công có thể mua vài kg thịt loại ngon, trong khi đó muốn
có con gà thịt được cũng phải nhọc nhằn ba bốn tháng. Ở
nhà muốn may bộ quần áo là phải bán thóc bán lợn bán gà.
Ra thị thành sau giờ làm có thể rủ nhau bù khú rượu bia…
Rất, rất nhiều điều cám dỗ trước mắt, cứ thế con người ta
bị cái guồng xoáy cuộc đời quăng quật:

“Dùng dằng gió quật anh về hai phía
Lại cuốn vào cơn lốc xoáy miên man
Nghiêng bóng tháng Giêng đổ vào tháng Chạp
Mơ phù sa sinh nở những mùa màng!”

Những câu thơ như cái cật nứa cứa xót tim ta đến
rớm máu.
Thảm họa này không chỉ ở quê hương của nhà thơ
Nguyễn Ngọc Hưng mà của tất cả những miền quê nghèo
khổ ở miền Trung.
Không phải đến “Giấc mơ phù sa” mà cách đây lâu
lắm rồi Nguyễn Ngọc Hưng cũng đã viết về điều này trong
bài “Dì tôi”:

“Các em đủ lông đủ cánh
Mỗi người chọn một đường bay
Còn tổ chim xưa trơ trọi
Hắt hiu dì đếm tháng ngày”

Hoặc nữa trong bài “Chốn về”:

“Bao nhiêu cánh chim bay biệt xóm làng
Rơi tiếng hót nơi nào không biết nữa”

Tất cả đã ra đi. Tất cả đã bay đi tìm Giấc mơ phù sa.
Phù sa đâu chẳng thấy, bạc vàng đâu chẳng thấy, và tiếng
hót của đời mình đánh mất đâu không biết nữa. Chỉ còn lại:

“Dùng dằng gió quật anh về hai phía
Lại cuốn vào cơn lốc xoáy miên man”

Cơn lốc xoáy ấy cứ xoáy mãi cho những GIẤC MƠ
PHÙ SA tan nát tả tơi 

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương.
Năm sinh 1940.
Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An.
Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *