logo

GIẤC MƠ SÔNG THƯƠNG 2

Ngón cầm
vạt yếm ngọc ngà
Chiều thoai thoải xuống
khúc ca mời trầu*
Sông Thương
mắt mẹ nông sâu
Khua chèo Kinh Bắc,
đò câu dùng dằng*
Hoàng hôn
non nõn chờ trăng
Bờ em khem khép
mắt vằng vặc đêm
Sợ đau
cả dải yếm tiên
Tay hờ buộc
để cõi thiền
phân vân
Em nhìn
phai bớt mùa xuân
Cuốc kêu giã bạn*
cũng tần ngần im
Mắt người
vớt chút xuân chìm
Dưới bờ côi cút
đợi chim khách về*
Sông Thương
ngủ một dáng quê
Trăm năm
chảy lẫn
tóc thề, cỏ may
Câu quan họ
khóc cuối ngày
Tiễn chiều vào chết
dưới bầy nắng thưa
Tôi về
nước mắt cạn chưa
Mà trời Kinh Bắc
chiều mưa lưng tròng
Bến Thương
trắng đục đôi dòng
Chiều Sim*
quành quạnh
chong chong
đợi đò…

Sông Thương, Bắc Giang
15/02/2017

* Câu ca quan họ
* Dòng Sim hoà vào dòng Thương tạo nên hiện tượng sông Thương có hai dòng trong và đục.

Nguyễn Phúc Lộc Thành

LỜI BÌNH

Tôi đã đọc cả hai bài thơ viết về sông Thương trong cõi mơ của Nguyễn Phúc Lộc Thành. Với tôi Giấc mơ sông Thương 1 cảm xúc thơ của Nguyễn Phúc Lộc Thành mới chạm được vào bờ của con sông Thương. Hay nói khác đi bài thơ được viết ra khi thi nhân còn nửa thức nửa ngủ. Chỉ với Giấc mơ sông thương 2 cảm xúc thơ của thi nhân mới nhập hồn vào trong sâu thẳm nổi chìm trắng đục của dòng Thương. Nói khác đi bài thơ được sáng tạo ra trong cõi mơ, trong miền vô thức.
Mỗi bài thơ ra đời đều có duyên cớ của nó. Phải chăng Giấc mơ sông Thương 1 và 2 được sáng tạo như là một duyên phận, một sự tình cờ kỳ diệu. Có thể những ngày đầu xuân Nguyễn Phúc Lộc Thành đã bị một mỹ nhân sông Thương ám ảnh hút hồn và đêm về trong cơn mơ một giọng nữ dịu dàng quyến rủ đọc cho anh những câu những từ và cứ thế anh liên tục gõ máy sáng ra bài thơ đã nằm sẵn trong máy như khi nhà thơ Hoàng Cầm viết Lá diêu bông *. Không cần chỉnh sửa anh đăng lên facebook còn sợ người ta ném đá! Tôi luôn nghĩ thơ là sự vụt hiện lóe sáng của thiên tài. Những bài thơ được sáng tạo trong miền vô thức bao giờ cũng tiềm ẩn những yếu tố phi lí, mong manh và hư ảo. Giấc mơ sông Thương 2 theo tôi là một bài thơ như thế. Đọc bài thơ tôi bỗng nhớ đến câu nói của Nguyễn Trọng Tạo “Mỗi dòng sông đều chọn cho mình một thi sỹ”. Có phải vậy chăng qua bao đời nay đã biết bao nhiêu nhà thơ viết về sông Thương cho đến tân bây giờ dòng sông Thương bên trong bên đục mới chọn được cho mình một thi sỹ – Nguyễn Phúc Lộc Thành
Đọc bài thơ tôi như cùng thi nhân chìm vào cõi mơ. Mơ về những ngày xưa cũ khi sông Thương còn là nỗi cắt chia của đôi dòng trong đục. Mở đầu là một khổ thơ, mới đọc ta cảm thấy rất rời rạc:

“Ngón cầm
vạt yếm ngọc ngà
Chiều thoai thoải xuống
khúc ca mời trầu*”

Tất cả đều mong manh và hư ảo. Nhưng tôi đã thực sự bị hút hồn vào hai từ “Ngón cầm” Vâng chỉ là ngón cầm chứ không phải tay cầm và lại cầm vạt yếm ngọc ngà. Nếu chỉ dữa vào văn bản câu thơ chưa nói lên được điều gì. Nhưng đây là giấc mơ về một dĩ vãng xa xăm. Người thôn nữ đang đưa ngón tay thon mềm mãi cầm vạt yếm ngọc ngà là người thôn nữ của nghìn thu cũ. Có thể đó là một liền chị đã từng khát vọng “Ước gì sông rộng tày gang. Bắc cầu giải yếm đón chàng sang chơi” Và với nàng con sông Thương trước mặt nàng chỉ rộng tày gang. Nàng quyết tình tung cái vạt yếm ngọc ngà đó lên trên ánh chiều đang “thoai thoải xuống” nhờ chở về bên kia sông để cho một nhịp cầu của tình yêu được tạo dựng. Bỗng dưng nhà thơ đặt vào đây bốn từ “Khúc ca mời trầu”. Chúng ta phải hiểu rằng khúc ca mời trầu chỉ được cất lên khi đón bạn, có bạn. Điều ước của nàng thôn nữ đã thành hiện thực và nàng đang hát khúc ca mời trầu cho chàng nghe vì miếng trầu là đầu câu chuyệN …
Một khổ thơ nữa cứ như nó được vớt lên giữa dòng Thương trắng đục nổi chìm:

“Sông Thương
mắt mẹ nông sâu
Khua chèo Kinh Bắc,
đò câu dùng dằng*”

Phải chăng nàng thôn nữ bỗng chạnh nghĩ về cuộc đời của mẹ. Tôi cứ băn khoăn có phải nàng đang làm một phép so sánh cuộc đời của mẹ giống như sự nổi chìm trắng đục của sông Thương khi vướng vào vòng đời tục lũy. Hay nàng nghĩ dòng sông “thương” mẹ như chính cuộc đời của sông? Chữ Thương ở đây hiểu như thế nào cũng đắc địa có thể là tên riêng cũng có thể thuộc về cảm xúc. Tác giả chỉ dùng cụm từ “Khua chèo Kinh Bắc” vì tiếng mái chèo khua nước trầm đục đồng cảm với tiếng gọi đò da diết dùng dằng của bao lứa đôi ở đôi bờ nông sâu thuở xưa?
Thời gian cứ tĩnh tiến–một sự tĩnh tiến như có phần đồng lõa với cặp tình nhân. Khi chàng sang chơi, khi em hát khúc ca mời trầu, rồi khi em lặng đi vì nghĩ về mẹ mới chỉ là “Chiều thoai thoải xuống” Còn bây giờ đã là:

“Hoàng hôn
non nõn chờ trăng
Bờ em khem khép
mắt vằng vặc đêm”

Hoàng hôn non nõn xuống và trăng cũng đã bắt đầu nhú mọc. Như thế nào là “hoàng hôn non nõn” có lẽ chỉ có Nguyễn Phúc Lộc Thành mới hiểu vì đó chính là thứ ánh hoàng hôn do anh sáng tạo ra. Đó là thứ hoàng hôn đã đẫm đặc để cho ta cảm nhận cho ta nắm cầm được. Trong ánh hoàng hôn và trong ánh trăng non ấy chỉ có hai con người. Hoàng hôn non nõn còn biết đợi chờ vầng trăng thì những con người những lứa đôi không đợi chờ, thương nhớ nhau sao được?
Lại một cụm từ tài hoa nữa của Nguyễn Phúc Lộc Thành. Tôi cứ nghĩ người trần tục không thể sáng tạo ra những cụm từ như thế. Không hiểu thời anh học trường viết văn Nguyễn Du có ai dạy anh cụm từ này “Bờ em khem khép/mắt vằng vặc đêm”. Khép như thế nào gọi là khem khép. Một từ ghép bất ngờ xuất hiện hay anh đã nghĩ đến từ ghép “Kiêng khem” trong dân gian. “Khem” ở đây có nghĩa là ít. Còn bờ em ở đây là gì mà cứ phải e ấp đắn đo mãi thế. Khem khép có nghĩa vẫn còn ẩn chứa tình ý gọi mời, quyến rủ. Đôi mắt em lại ngời lên vằng vặc trong đêm. Một đôi mắt mà sau này Nguyễn Phúc Lộc Thành còn phải nhắc đến nhiều lần. Ánh vằng vặc ấy là ánh lửa nồng nàn bừng sáng được đốt lên từ trong con tim bỏng cháy yêu đương của người thôn nữ, của mỹ nhân sông Thương.

“Sợ đau
cả dải yếm tiên
Tay hờ buộc
để cõi thiền
phân vân”

Thời gian cứ tĩnh tiến từ thoai thoải chiều đến hoàng hôn non nõn. Còn cảm xúc cũng đang tịnh tiến từ ánh mắt nồng nàn đã bắt đầu có điều gì đó thuộc về phồn thực. Cái giải yếm như thế nào là giải yếm tiên. Chắc nó thánh thiện, dịu mềm lăm lắm nên nàng mới sợ nó đau. Nhưng đó chỉ là cái duyên cớ hết sức mong manh không có sức thuyết phục về một sự gọi mời quyến rủ . Cử chỉ đó cõi thiền còn phải phân vân huống chi người trần tục – Nguyễn Phúc Lộc Thành.

“Em nhìn
phai bớt mùa xuân
Cuốc kêu giã bạn*
cũng tần ngần im”

Nếu em nhìn mà mùa xuân cũng phải nhạt phai và tiếng cuốc kêu gọi bạn tình cũng phải tần ngần im! Liệu có phải đó là đôi mắt của ác quỷ??? Không! Ngàn lần không! Anh đã nhìn vào đôi mắt em và trong đó anh đã nhìn thấy không chỉ sắc xuân tình xuân của đất trời mà còn là sắc xuân, tình xuân của tâm hồn em đang hội tụ rồi bừng lên. Mùa xuân của đất trời và cả tiếng cuốc kêu giã bạn cũng phải thẹn thùng trước đôi mắt kiều diễm của em. Phải đến lúc này ta mới cảm nhận được một lời khen từ chàng trai. Đúng là khi đã nhìn vào đôi mắt mỹ nhân sông Thương thì thế giới khách quan không tồn tại đối với Nguyễn Phúc Lộc Thành.

“Mắt người
vớt chút xuân chìm
Dưới bờ côi cút
đợi chim khách về*”

Hình tượng đôi mắt lại một lần nữa xuất hiện. Nhưng sao bây giờ lại nhuốm mùi tục lũy? Sao xuân ở đây lại chìm sâu xuống dưới bờ côi cút khổ đau ?Đến đây ta đã thấy thấp thoáng cái tôi của thi nhân xuất hiện. Nguyễn Phúc Lộc Thành đã cảm nhận được sức mạnh siêu phàm của đôi mắt người, của đôi mắt em – Một đôi mắt có thể nhấn cả mùa xuân của đời anh chìm xuống dưới cái bờ côi cút và cũng có thể vớt anh lên trả anh lại cho mùa xuân cuộc đời. Đôi mắt mỹ nhân sông Thương đã cứu rỗi đời anh!!! Con chim khách lại về báo hiệu điều mừng vui sum họp lại đến.

“Sông Thương
ngủ một dáng quê
Trăm năm
chảy lẫn
tóc thề, cỏ may
Câu quan họ
khóc cuối ngày
Tiễn chiều vào chết
dưới bầy nắng thưa”

Biên độ cảm xúc của Nguyễn Phúc Lộc Thành đã mở rộng ra từ cái ngón tay thon thả cái vạt yếm ngọc ngà, cái giải yếm tiên giờ là đời sông là quê hương xứ sở là cộng đồng. Qua mùa bão giông nắng lửa với bao bộn bề lo toan tưới tắm phù sa mật ngọt cho những cánh đồng, giờ sông Thương của Nguyễn Phúc Lộc Thành mới chìm trong giấc ngủ. Một giấc ngủ dáng quê bình yên trong tiếng thầm thì của những lứa đôi trên bờ đê rối bời tóc thề cỏ may, trong lời ru, trong tiếng hát Quan họ-Tiếng hát có thể lay thức ru ngủ, biến cải cả thiên nhiên đất trời. Thì làm sao lòng người không mê mẩn đắm say?

“Tôi về
nước mắt cạn chưa
Mà trời Kinh Bắc
chiều mưa lưng tròng”

Đến đây thì Nguyễn Phúc Lộc Thành hòan toàn vô thức. Anh không hiểu chính bản thân mình. Anh cất lên câu hỏi “Tôi về / nước mắt cạn chưa” Anh hỏi chính mình hay anh hỏi trời. Hay đây là một lời tự thú trước mỹ nhân? Phải chăng nước mắt kẻ sy tình đã hóa thành cơn mưa ướt cả đôi mắt của trời Kinh Bắc. Đại ngôn ngoa ngữ! Nhưng chính điều đó mới nói được đủ đầy sức mạnh chinh phục, sức mạnh cảm hóa của dòng sông và con người miền Kinh Bắc đối với thi nhân.

“Bến Thương
trắng đục đôi dòng
Chiều Sim*
quành quạnh
chong chong
đợi đò…”

Lần đầu tiên tôi đọc được hai từ “Trắng đục” khi viết về sông Thương. Cũng chỉ có Nguyễn Phúc Lộc Thành mới có sức liên tưởng tài hoa đó. Trước hết trong thực tế khi dòng sông lóa nắng thì ta không thể phân biệt được đâu là trong đâu là đục. Cũng có thể khi viết hai từ này Nguyễn Phúc Lộc Thành đã nghĩ về dòng sông của Nguyễn Bính:

“ Sông trắng thuyền trôi nước trắng trong”

Ta thấy hai từ Trắng đục đó lại diễn tả đủ đầy nhất không chỉ về cảm xúc của thi nhân và cả về thực tại vì thực ra việc phân chia đôi dòng trong đục nơi sông Thương giờ không còn nữa.
Đứng trên ngã ba Sim nơi hợp lưu của con sông máng với sông Thương một cảm giác mơ hồ nhiều tiếc nuối về những con đò xưa cũ những con đò nối hai bờ trắng đục của những lứa đôi giờ chỉ còn lại trong ký ức dĩ vãng. Nguyễn Phuc Lộc Thành có đợi mãi, đợi mãi đến hết cuộc đời thì những con đò trong câu ca Quan Họ chẳng thể trở về. Chỉ còn lại trong tâm hồn thi nhân và trong tâm hồn chúng ta câu hát gọi đò. Những câu hát mà khi các liền chị Quan Họ cất lên đã có sức mạnh cảm hóa kỳ diệu, siêu phàm như cố nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết:

“Tiếng em hát người ơi!
Người thân nhau mãi mãi
Tiếng em hát đò ơi!
Sông đưa đò gần lại”

Tiếng hát làm cho cõi người xích lại gần nhau và còn hơn thế nữa cho dòng sông vô tri còn biết đưa con đò cho những lứa đôi sum họp!
Thế là từ nay trong tâm hồn tôi đã có thêm một con sông Thương của Nguyễn Phúc Lộc Thành chảy mãi, chảy mãi cho hết những tháng năm còn lại của cuộc đời tôi trên cõi tạm này.
Cảm ơn! xin cảm ơn thi nhân Nguyễn Phúc Lộc Thành!

*Lời tự thuật về bài thơ LÁ DIÊU BÔNG của Thi Sỹ Hoàng Cầm

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *