logo

KHÓC BA

Vừa mới đấy.
Đã ba năm cách biệt
Bóng người cha!!!
Những câu thơ gan ruột.
Bạc nắng chân nhang.
Trên đường làng tiếng ve rơi ngơ ngác.
Vạc kêu sương lạnh buốt phía bìa trời.
Cỏ đan kín mồ…!
Lời ru Mẹ ướt.
Ba ở nơi đâu sao con tìm được.
Một chút ân tình sưởi ấm ngọn gió non.
Những nấc thang nên người Ba dặn lại cháu con.
Nghẹn tiếng khóc thầm ấp vào nỗi nhớ.
Bên cầu ao cây khế mấy mùa hoa không trổ.
Bát canh bồng bồng run rẩy trên bàn tay.
Mầu Công Cống chùm lên ngày giỗ.
Đàn chim về réo rắt hạt mưa bay.. !!!

Vũ Quang Việt

LỜI BÌNH

Rất nhiều nhà thơ đã dùng chất liệu là ngôn ngữ nghệ thuật để tạo dựng nên những tượng đài bất tử về người mẹ trong thế giới thi ca. Nhưng có một hiên thực những bài thơ viết về người cha có được chỗ đứng trong thi ca và trong lòng người là rất hiếm hoi. Bài Khóc Ba của Vũ Quang Việt là một trong số rất hiếm hoi đó.
Người Ba trong bài thơ là một người bạn lớn của tôi – Nhà thơ Vũ Quang Trình, Đại tá chủ nhiệm khoa Vô tuyến điện tử Học viện Quân sự Chính Trị Quốc gia. Đọc bài thơ tôi linh cảm hình như Vũ Quang Việt viết bài thơ từ trong sâu thẳm của nỗi ân hận xót xa. Không ân hận, không xót xa sao được khi chính anh đã tước đi ước mơ của người cha muốn xây đắp cho anh một tương lai tốt đẹp. Đang học năm thứ ba tại Học viện Quân sự Chính trị Quốc gia thì anh phá phách xin về nhà bằng được. Ba người con trai của ông chỉ có đứa con út là theo nghiệp cha. Còn cậu cả Vũ Quang Việt và cậu hai ở nhà làm ruộng. Mà làm ruộng ở cái vùng chiêm trũng Lương Tài đủ hạt gạo cho vào nồi là may lắm rồi ở cái thời gạo châu củi quế. Vì vậy đồng lương hưu Đại tá của ông phải chu cấp cho các cháu học hành. Khi hai đứa con Vũ Quang Việt vào đại học cả hai vợ chồng phải ra Hà Nội làm Ô sin để có tiền nuôi con ăn học. Thế là Ba anh lại phải chăn bò, chăn gà chăn lợn, đêm đến phải sang trông nhà. Một ngôi nhà hoang lạnh ẩm mốc vì thiếu vắng hơi người. Tôi đã có một đêm ngủ trong ngôi nhà như bỏ hoang ấy với nhà Thơ Vũ Quang Trình.
Tôi nghĩ từ trong nỗi ân hận xót xa đó cảm xúc đã bùng lên để Vũ Quang Việt có được bài thơ Khóc Ba mà tôi tin tất cả những ai được đọc nó đều sẽ rất xúc động. Đọc bài thơ trong tôi trào lên nỗi thương cảm với Nhà thơ Vũ Quang Trình. Bài thơ được kết nối bằng những tứ thơ mà Vũ Quang Trình đã để lại cho con cháu, để lại cho đời:

“ Những nấc thang nên người ba dặn lại cháu con”

Vũ Quang Trình đều gửi gắm qua “ Những câu thơ gan ruột” về đạo làm ngươi :

“Biết đứng thẳng
Bởi có tâm ngay thẳng
Một đời chưa luồn cúi bao giờ
Tên như mơ hình bóng như mơ
Hao khuyết đấy
Mà đắp bồi cũng đấy
Trước bạn tri âm
Miệt mài cháy
Thắt lòng lệ ứa rung rung”…

( Cây nến nhà mình )

Đó là đạo người quân tử
Ông như muốn nói với con về nỗi gian truân nhưng vẫn tràn đầy khát vọng của người nông dân:

“Tháng năm cha thít lại đai quần
Mải mê mài lưỡi cày lưỡi cuốc
Ngắm tua rua chờ con nước vược
Lần sao đêm tìm tới bình minh”

( Tháng năm )

Giờ ngồi đọc di cảo của người cha Vũ Qung Việt đã viết những câu thơ bằng nước mắt và bằng máu của con tim với tất cả sự tận cùng của xót xa ân hận. Mới ngày nào tôi xuống viếng người cha kính yêu của anh mà đã ba năm rồi ư?
Đọc câu thơ:

“Trên đường làng tiếng ve rơi ngơ ngác”

Đó chính là cảm xúc được chắt ra từ câu thơ vừa tài hoa vừa hình tượng của người cha “Trên sân trường lũ trẻ bi bô . Nhặt tiếng ve rơi bỏ đầy túi xắc”. (Tháng Năm ) Giờ người cha đi rồi tiếng ve của ngày xưa ấy cũng ngơ ngác ngác ngơ. Những tiếng vạc mà người cha thường nhắc đến trong những câu thơ giờ sao nghe:

“Vạc kêu sương lạnh buốt phía bìa trời”

Hai chữ “Bìa Trời” là một sáng tạo ngôn ngữ tài hoa của Vũ Quang Việt nó cho ta cảm nhận được nỗi cô đơn hoang vắng khi thiếu vắng bóng hình người cha.
Với người mẹ đã một thời như thơ người cha đã viết:

“Mẹ gói câu ví vào giải yếm xanh
Đem má hồng ra khoe với nắng
Trời tháng năm bồng bềnh mây trắng .
Vung tay liềm mẹ hái ước mơ”

(Tháng năm )

Câu ví gói trong giải yếm xanh ngày xưa ấy giờ mẹ giở ra khóc ướt mộ người chồng

“Bên cầu ao cây khế già mấy mùa hoa không trổ”

Ba đi rồi cây khế biết trổ bông kết trái cho ai? Cây khế còn biết xót thương Ba như thế thì làm sao lòng con không tan nát hở Ba ơi. Bát canh bồng bồng nghèo khó mà Ba vẫn ăn mỗi ngày giờ đây cứ “Run rẩy trên bàn tay” của con, của mẹ

“ Màu công cống trùm lên ngày giỗ”

Thi phẩm “Màu Công Cống” của Vũ Quang Trình là một thi phẩm được rất nhiều người đón nhận với tất cả tấm lòng trân trọng yêu thương mà bây giờ cứ mỗi ngày giỗ đến đứa con trai lại đặt thi phẩm lên bàn thờ để khóc cha. Những hạt công cống ngày xưa còn đủ ấm lòng đàn chim sẻ giờ đây không còn nữa để đàn chim cứ réo rắt gọi tìm trong mưa bay.
Bài thơ khép lại rồi mà đứa con cứ ngồi khóc mãi không thôi bên nấm mồ đã phủ dày cỏ xanh

Xin kính tặng bài viết này cho hương hồn nhà thơ Vũ Quang Trình Chúc ông bằng an nơi cõi vĩnh hằng

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *