logo

NGUYỄN LÂM CẨN VỚI NHỮNG DÒNG LỤC BÁT MANG NẶNG NỖI NIÊM

Trước đây tôi đã được đọc một vài tập thơ của Nguyễn Lâm Cẩn, những tập thơ hình như anh đang muốn vật lộn với những cách tân ồn ào, nhiều lúc có chiều thái quá trong suy ngẫm, trong trải nghiệm. Thú thật ở vào tuổi của tôi rất khó nuốt trôi những tập thơ như thế. Giờ gặp lại thơ anh trên Việt Văn Mới tôi thật sự giật mình. Người con xứ Nghệ đã kịp nhận ra chỗ đứng của mình là phải từ trong nguồn cội của cha ông, để xứng đáng với cái thâm thúy, sâu sắc, nhiều trắc ẩn và cũng rất nhiều trải nghiệm của những ông đồ Nghệ. Nguyễn Lâm Cẩn đã kịp nhận ra thể loại lục bát có thể giúp anh giãi bầy tâm sự, giãi bầy nỗi niềm và những buồn đau nhân thế. Stalin có nói một câu “Thơ đích thực phải đượm chút buồn nhân thế”. Lục bát của Nguyễn Lâm Cẩn trên Việt Văn Mới theo tôi đã là thứ thơ đích thực. Nguyễn Lâm Cẩn đã hoàn toàn lột xác, dám phơi trải mà không hề thái quá. Đọc thơ anh tôi lại nhớ đến Trần Nhuận Minh:

“Câu thơ như gan ruột
Phơi ra giữa trời mây”

Phần nào thơ Nguyễn Lâm Cẩn đã là như thế và còn tiệm cận được những gì như Trần Nhuận Minh đã viết:

“Câu thơ như mảnh hồn người
Chắt chiu mưa nắng một thời cho nhau”

Nguyễn Lâm Cẩn đã biết chắt chiu mảnh hồn mình, những suy tư trăn trở của mình chia sẻ với cõi người.
Thơ lục bát của anh thật nhuần nhuyễn, lưu loát, có sức nặng tâm trạng, sức nặng ám ảnh vì vậy nó có sức lan tỏa và thẩm thấu vào cõi người. Chỉ cần đọc vài lần là tôi có thể thuộc lòng bài lục bát của anh mà tôi yêu thích.
Không hiểu sao tôi cứ nghĩ Nguyễn Lâm Cẩn để lại điều gì đó có ích cho văn chương, có ích cho cuộc đời chính là bằng những dòng lục bát này đây. Những dòng lục bát chở nặng nỗi niềm. Nhiều nhà thơ đã khẳng định được chỗ đứng của mình trên thi đàn Việt Nam hiện đại chính là nhờ thể loại thơ lục bát chứ không phải là sự cách tân ồn ào, xô bồ náo nhiệt như nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh đã viết:

“Thấy thơ lông bông trăng sao
Váy áo lòe xòe, nhởn nhơ hoa bướm
Hổn hển chiếu chăn, loay hoay chữ vần, ngả nghiêng ký tự
Chủ nghĩa nọ, trường phái kia, cãi nhau hàng thế kỉ
Chẳng vì thế mà làm cho hạt thóc nẩy mầm”

Một số các nhà thơ nổi tiếng nhờ thể loại lục bát mà tôi được biết như: Đồng Đức Bốn, Nguyễn Duy, Nguyễn Đình Cánh, Nguyễn Bùi Vợi và giờ đây tôi nghĩ Nguyễn Lâm Cẩn cũng đang tự khẳng định chỗ đứng của mình bằng thể loại thơ lục bát.
Tôi xin có đôi điều cảm nhận về một số bài thơ lục bát của Nguyễn Lâm Cẩn trên Việt Văn Mới. Có thể trong cảm nhận của tôi sẽ có những lúc vượt ra ngoài văn bản thơ vì thơ Nguyễn Lâm Cẩn bắt tôi phải như thế, trăn trở và suy ngẫm rồi cứ lang thang trong cõi người mà trải nghiệm. Nhiều lúc tôi muốn dựa vào thơ để bày tỏ quan điểm của mình về cuộc sống đương đại. Rất mong tác giả và độc giả rộng lòng lượng thứ.

“MỜI KHÓI UỐNG RƯỢU”

Đã có một câu thành ngữ “Chết đuối vớ được cọc” nhưng Nguyễn Lâm Cẩn không có cái may mắn đó, anh sắp chết đuối lại vớ phải cái không thể nắm cầm đó là khói, mặc dù khói là vật chất vì nó có mầu sắc, có mùi vị. Qua bài thơ ta thấy Nguyễn Lâm Cẩn là người sắp chết đuối, nhưng không phải giữa biển nước bao la mà giữa biển đời vô cảm. Mặc dù đã liệt kê ra tuy chưa phải là thập loại chúng sinh nhưng cũng là một góc của thế gian. Một thế gian mà ở đó Nguyễn Lâm Cẩn dư thừa vật chất (rượu) nhưng lại nghèo nàn khánh kiệt (tình).

“Muốn mời mấy đứa cụng ly
Đứa thì xuống đất, đứa đi lên trời
Đứa thì lễ hội rong chơi
Đứa thì cơm áo chưa rời áo cơm”

Đại từ “đứa” có vẻ như thân mật nhưng thực ra lại là suồng sã, điều đó chứng tỏ mấy đứa này không phải là tri âm tri kỉ. Nguyễn Lâm Cẩn cần bất kỳ người nào trên thế gian này để được cụng ly với họ. Thế nhưng “đứa thì xuống đất” chắc đứa ấy sống trên đời lắm bạc ác gian manh, lọc lừa tráo trở nên bị đày xuống địa ngục. “Đứa thì lên trời” chắc đứa ấy sống trên đời nhiều lương thiện nên được lên thiên đàng nhưng rồi cũng để hầu chúa trời, hầu đức phật tổ. Còn “đứa thì lễ hội rong chơi”, chắc những đứa này lắm tiền nhiều của. Mà đã lắm tiền nhiều của ở thời đại này thường là những ông chủ hoặc là buôn bán. Những ông chủ thì bóc lột, những người buôn bán muốn nhiều lời phải dối trá, vì thế ngày xưa ở bên Tàu những người buôn bán không được ra làm quan. Chỉ có Lã Bất Vi là con buôn nhưng lại là bố đẻ của Tần Thủy Hoàng nên mới được làm quan. Điều đó chứng tỏ những người buôn bán không ở ngôi cao. Những đứa như thế không thể ngồi cụng ly với nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn. Còn “Đứa thì cơm áo chưa rời áo cơm” thì nhiều và nhiều lắm, trong đó có các nhà thơ bởi vì cơm áo không đùa với khách thơ. Những đứa này thì đang tối tăm mặt mày để mưu sinh để cơm áo nên không có thì giờ ngồi cụng ly với Nguyễn Lâm Cẩn được.
Không còn cách nào khác, không biết cụng ly với ai, Nguyễn Lâm Cẩn đành phải chơi ngông. Đọc khổ thơ ta thấy đắng lòng đến thế. Tưởng làm nên công trạng cháo cơm gì to tát hóa ra Nguyễn Lâm Cẩn chỉ:

“Ngồi buồn nhóm ngọn lửa rơm
Nâng lên mời khói cho thơm vị đời”

Hương đời, vị tình nhạt hết rồi sao mà phải nhờ đến cái hương khét lẹt, cái vị cay xè của khói mà cụng ly. Sợ khói không cụng ly với mình nên Nguyễn Lâm Cẩn ở đây rất cung kính phải hai tay nâng chén rượu mời khói hẳn hoi. Cụng ly để cho thơm vị đời, ôi chua chát làm sao. Nguyễn Lâm Cẩn vì quá cô đơn nên phải bấu víu vào bất kỳ cái gì dù đó là hư ảo để biết rằng mình đang tồn tại giữa cõi nhân gian dù ở đó.

“Đạo người, đạo chữ chơi vơi
Chí Phèo, Bá Kiến coi trời bằng vung”

Đạo người thì vô cảm, đạo chữ thì chơi vơi không biết viết cho ai, viết để làm gì. Nhiều khi bỏ công hàng năm trời, hàng chục năm trời để viết ra một tập thơ, một cuốn sách lại không có tiền để in ấn. Không in được thành sách hóa ra mình chỉ viết cho mình đọc. Văn chương không có người đọc là văn chương chết. Những Chí Phèo, Bá Kiến thời hiện đại cứ muốn đập phá, cứ muốn xưng hùng, xưng bá nhưng lại không biết xưng hùng xưng bá với ai và đập phá cái gì. Chí Phèo còn có Bá Kiến, Còn có những người dân lương thiện mà ăn vạ mà chửi bới, Bá Kiến còn có Chí Phèo để cho rượu hoặc để hành hạ. Trong cảnh như thế nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn của chúng ta đã đi đến tận cùng của bế tắc và cảm thấy.

“Đã rơi xuống đáy bần cùng
Những ai lương thiện không khùng cũng điên”

Phải nói một cách công bằng thời nay những kẻ bần cùng về vật chất theo thống kê của Nhà nước chỉ mấy % nhưng Nguyễn Lâm Cẩn không muốn đề cập đến những người bần cùng đó dù rằng tiêu chí hộ nghèo hiện nay là thu nhập bình quân mỗi người một tháng không quá 200 nghìn Việt Nam đồng, số tiền không đủ để mua một ly rượu cho các đại gia. Cái bần cùng Nguyễn Lâm Cẩn muốn nói ở đây là sự bần cùng về nhân cách, tất cả đều vô cảm và băng hoại nhân cách. Nguyễn Lâm Cẩn luôn cảm thấy sự bất an đang vây bủa quanh anh và muốn cầu xin mời mọc:

“Ta mời khói chút bình yên
Đêm nay dốc ngược túi tiền để say”

Nghe có vẻ giang hồ lãng tử lắm nhưng chính điều đó là để che đậy sự bất an, sự trống vắng trong lòng nhà thơ. Thử hỏi túi tiền của nhà thơ được bao lăm mà dám dốc ngược để say. Ta thấy Nguyễn Lâm Cẩn không thể say mà anh rất tỉnh, tỉnh lắm vì có tỉnh mới cảm thấy hết nỗi cô đơn trơ trọi của đời mình:

“Cầu xin sợi khói đừng bay
Trọi trơ ta giữa đất này khói ơi
Lửa tàn, rơm hết, than tơi
Ta cùng hồn đất, hồn trời cụng đêm”

Đến đây ta thấy Nguyễn Lâm Cẩn hoàn toàn trở nên vô thức. Ta thấy một Nguyễn Lâm Cẩn đang quỳ lạy trước đống tro tàn để cầu xin, không cầu xin gì to tát mà chỉ là “Cầu xin sợi khói đừng bay”. Sợi khói không bay sao được, sợi khói cứ thế vô tình vô cảm mà bay lên trời, bay vào cõi hư vô. Mà thực ra làm gì còn khói khi “Lửa tàn, rơm hết, than tơi”. Chỉ còn lại là bóng đêm dày đặc và Nguyễn Lâm Cẩn muốn cụng ly với bóng đêm, đã hóa vào hồn đất, hồn trời. Ta cầu chúc anh được như thế vì đó cũng là một sự giải thoát. Sống giữa cõi người mà vô vọng trọi trơ đến như vậy sao?
Thực ra không chỉ Nguyễn Lâm Cẩn cảm nhận được sự vô cảm của cõi người, sự suy thoái và băng hoại nhân cách. Khi nhìn những dòng người đông đúc trên đường phố Hà Nội Bùi Việt Mỹ đã buông một câu thật chua chát:
“Đông thế mà sao chẳng lắm người”
Bùi Việt Mỹ có thái quá không theo tôi là không bởi thực trạng hiện nay đã là như thế. Trong hai từ con người chỉ tồn tại nửa đầu (con) mà không tồn tại nửa cuối (Người). Suy cho cùng hiện nay trong thời công nghiệp hóa hiện đại nạn ô nhiễm môi trường lúc nào cũng báo động. Ra đường bây giờ đủ mọi thứ bất trắc: Tai nạn giao thông, bụi đường bụi khói xe máy ô tô. Nên người ta thường phải đội mũ bảo hiểm, bịt mặt, bịt mồm, có người mặc váy đi xe máy còn quấn thêm chiếc vỏ chăn hoa bên ngoài. Đúng là bây giờ ra đường ta chỉ gặp những dáng hình có vẻ là những thích khách vừa bí hiểm và vô cảm chẳng thể nhận ra người quen hay kẻ lạ. Đó phải chăng là người hay chỉ là những hình nhân. Chúng ta bây giờ không thể được chiêm ngưỡng những vẻ đẹp mà tạo hóa đã ban tặng cho con người, không được nhìn thấy những đôi mắt nhung đen, những nụ cười rạng rỡ, những khuôn mặt như thiên thần.
Còn đây là nỗi hoang mang sợ hãi của cô gái bán hoa bị vây bủa đến khốn cùng lúc canh khuya giữa phố phường hoa lệ mà nhà thơ Trần Nhuận Minh đã đặc tả trong bài “Canh Khuya”.

“Đất thì hẹp và trời càng thêm hẹp
Trốn vào đâu sông núi cũng vô tình
Góc phố nào cũng có lầu ngưng bích
Mặt người nào cũng có dáng Sở Khanh”

Sông núi thì vô tình, phố phường thì góc nào cũng có lầu, có nhà nhưng đó không phải là chốn dung thân bình yêu, đó là những lầu xanh trá hình của thời hiện đại. Ở đó có kẻ bán người mua, thế nhưng cả người mua lẫn kẻ bán đều mất đi cái cao quý nhất của con người đó là nhân phẩm. Đông người đấy nhưng nhìn mặt người nào cũng có dáng lừa lọc tráo trở, bán thịt buôn người như tên Sở Khanh.
Viết vế sự cô độc của nhà thơ Hữu Loan khi ông thất sủng phải rời Hà Nội về quê hương Thanh Hóa đập đá mưu sinh, nhà thơ Phạm Hiển ở Bắc Ninh đã có bài thơ khắc khoải chân dung của nhà thơ Hữu Loan:

“Người tìm đá
Kết tình tri kỷ
Đá tìm người
Hiến kế sinh nhai
Rượu bày ra
Lại rót vào chai
Đá hóa người
Bên người hóa đá”

Không thể kết bạn với con người được nữa vì chẳng còn ai dám kết bạn với những con người Nhân Văn Giai Phẩm. Hữu Loan đành tìm đá để kết tình tri kỷ. Tình tri kỷ ở đây mới chính là tình tri kỷ, Hữu Loan đã gắn trọn cuộc đời của mình với đá. Nhờ đá ông mới có kế mưu sinh để nuôi dạy chục đứa con khôn lớn thành người. Ông đập đá cho đến trọn đời, cho đến giọt mồ hôi cuối cùng. Mồ hôi thấm vào đá còn nặng hơn cả đá mà ông chở đi bán cho cõi nhân gian này. Vì cô đơn nên bày rượu ra muốn mời đá một chén, như Nguyễn Lâm Cẩn của chúng ta cũng rất cung kính khi mời khói uống rượu bằng hai tay “Nâng lên mời khói cho thơm vị đời”. Còn đá thì có tình người đấy nhưng lại không thể uống rượu, đổ xuống thì tiếc, uống một mình thì đắng cứ thế nhà thơ Hữu Loan rót rượu ra rồi lại rót vào chai. Đá thương ông đá biến thành người để chia sẻ cùng ông, còn ông thì quá cô độc mà hóa đá để kết tình tri kỉ. Cuộc đời của một nhà thơ vang bóng một thời với “Đèo Cả” và “Màu Tím Hóa Sim” là như thế đó còn Nguyễn Lâm Cẩn cũng có hơn gì đâu giữa thời hiện đại.

“Cầu xin sợi khói đừng bay
Trọi trơ ta giữa đất này khói ơi”

Cái khổ nhất trên đời của các nhà thơ là không có ai tri âm tri kỷ, không có ai cụng ly với mình. Tôi nghĩ phần nào Nguyễn Lâm Cẩn là một nhà thơ như thế sống cô đơn trơ trọi giữa cõi người. Bài thơ chỉ viết về mời khói uống rượu nhưng đó lại là tất cả nỗi niềm, là nỗi buồn đau nhân thế.

“XẨM”

Tôi không muốn bình bài thơ này, theo tôi có những bài thơ lời bình sẽ trở nên thô thiển và thừa thãi. “Xẩm” là bài thơ có sức nặng ám ảnh có sức lan tỏa thẩm thấu được vào lòng người. Người đọc có thể cảm nhận được đầy đủ những thông điệp mà Nguyễn Lâm Cẩn muốn gửi gắm qua bài thơ. Tôi chỉ viết về những suy ngẫm của riêng tôi mà bài thơ đã mang đến, đã dẫn dắt tôi. Thơ Nguyễn Lâm Cẩn bắt tôi phải làm như thế.
Qua dòng lạc thảo Nguyễn Lâm Cẩn muốn tặng bài thơ này cho tất cả những ai có khát vọng tôn vinh làn điệu hát xẩm lên hàng quốc hồn, quốc túy. Tức là tôn vinh những kẻ bần cùng sống tận đáy xã hội. Tôi đồng thuận và mong muốn khát vọng đó trở thành hiện thực.
Bài thơ “Xẩm” đã dẫn dắt tôi trở về với mọi nẻo đường đời mà ở đó tôi gặp không ít những cặp vợ chồng xẩm – nghệ nhân không được tôn vinh, không có danh hiệu trên các nhà ga, bến xe, góc phố, góc chợ, trong các công viên những cặp vợ chồng mà Nguyễn Lâm Cẩn chỉ cần một câu thơ đã khắc họa đủ đầy:

“Vung nồi chợ búa méo tròn úp nhau”

May mắn cho những cặp vợ chồng có thể bù đắp cho nhau, chồng mù lòa, vợ què quặt hoặc ngược lại để có thể dắt nhau “xăm xăm cuối chiều” bất hạnh nhất là những cặp vợ chồng đều mù lòa, họ cứ thế dắt nhau đi trong đêm dày tăm tối vô định không biết giới hạn về thời gian và không gian. Họ chỉ biết cảm nhận về thời gian bằng tiếng loa phóng thanh tun tút báo giờ ở góc phố hay các công viên. Có một thời cách đây đã lâu lắm rồi, từ thời bao cấp của thế kỉ trước xuất hiện câu chuyện tiếu lâm về những cặp vợ chồng xẩm mù lòa. Không hiểu người kể chuyện ác ý hay nhân từ, kể chuyện để cười hay để thấm nỗi đau, tôi coi là để thấm nỗi đau. Chuyện có tên “Em nghe đài tun tút rồi mà”. Hai vợ chồng xẩm ân ái với nhau giữa ban ngày ban mặt trong một góc công viên. Người bảo vệ bắt gặp quát tháo ầm ĩ. Hai vợi chồng xẩm lập cập run rẩy phân bua “Em nghe đài tun tút rồi mà” chuyện đau lòng quá. Đối với họ, chỉ có màn đêm dày đặc bao trùm lên tất cả, họ không biết đâu là báo giờ chính ngọ hay báo giờ nửa đêm.
Người ba đấng của ba loài, những người hát xẩm thuộc vào đấng tận cùng của xã hội. Họ cũng bị liệt kê vào hạng ăn mày, nhưng theo tôi họ là những người ăn mày lương thiện, lương thiện nhất thế gian này. Họ là những người ăn mày nhờ vào tài năng của mình đó là làn điệu hát xẩm. Một làn điệu buồn, buồn đến nao lòng. Một nỗi buồn dễ luồn lách vào những nơi sâu thẳm nhất của hồn người dù đó là những người vô cảm, những người lầm lạc, những kẻ bị đọa đầy. Có như thế họ mới có thể móc được từ hầu bao của khách qua đường, khách tàu xe, khách chợ búa những đồng hào lẻ cáu bẩn, những đồng xu vẹt mòn “Xu đời lép kẹp càng tiêu càng mòn” để mưu sinh “Đem lời đổi lấy cháo rau”.
Có một điều chăc chắn rằng tất cả những bài hát xẩm đều là những tác phẩm nghệ thuật chân chính nó mang tính nhân văn cao cả nhất, đậm đầy lòng nhân hậu. Đó là những lời giáo huấn dạy người ta đạo làm người, đạo làm con như “Thập ân”, “Mười nhớ”, “Mười thương”… Bài hát nào cũng mang cái tên tròn đầy thập toàn. Không hiểu sao tôi cứ chạnh nghị đã biết bao đứa con lầm lạc, bao kiếp người bị đọa đầy khi nghe những làn điệu hát xẩm ấy họ đã thức ngộ và trở về với đứa con có hiếu, những con người có ích cho cuộc đời, biết nhớ thương gia đình người thân và đồng loại. Tính nhân văn cao cả của lời hát và làn điệu xẩm chính là ở chỗ đó – Giáo hóa con người. Tôi cầu chúc cho những ai có khát vọng tôn vinh làn điệu hát xẩm, trả lại cho làn điệu này trở thành quốc hồn quốc túy, trả lại vị trí xứng đáng cho các nghệ nhân hát xẩm như Nguyễn Lâm Cẩn đã viết:

“Lời ca hóa phận thành văn
Hóa hồn quốc túy muôn năm tôn thờ”

Vẫn còn rất nhiều những bài lục bát của Nguyễn Lâm Cẩn trên Việt Văn Mới. Những bài lúc bát mang nặng nỗi niềm nhân thế, nỗi buồn đau nhân thế nhưng thơ Nguyễn Lâm Cẩn thì rộng dài, tôi thì lực bất tòng tâm, ngôn từ bao giờ cũng là hữu hạn trước mọi đa đoan dâu bể của cõi người mà các nhà thơ đích thực, các nhà thơ giàu lòng nhân ái muốn gửi gắm qua tác phẩm của mình.
Một lần nữa xin nhắc lại khẳng định trên của tôi: Nguyễn Lâm Cẩn để lại được điều gì đó có ích cho văn chương, có ích cho cõi người chính là thể loại thơ lục bát – NHỮNG DÒNG LỤC BÁT MANG NẶNG NỖI NIỀM

Bắc Ninh, xuân Ất Mùi

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *