logo

QUA SÔNG TRÀ KHÚC MÙA HẠ

Sông xưa giờ đã cạn
Đâu rồi tiếng “đò ơi!”
Đáy sông thành bãi sạn
Ngô, đậu đã đâm chồi.

Chỉ còn ao nước nhỏ
Dưới chân cầu lặng yên
Lơ thơ vài khóm cỏ
Âm thầm mơ thảo nguyên.

Soi mình trong vũng nước
Hỏi hồn sông nơi đâu ?
Mơ hồ nghe cá quẫy
Đau chuyện đời bể dâu.

Trăng về nơi cuối bãi
Ngỡ ngàng mơ bến sông
Con đò xưa gác mái
Trên bãi bồi mênh mông.

Quảng- Ngãi 7-2002.

Vương Hoài Uyên

LỜI BÌNH

Đây là bài thơ để lại trong tôi nhiều rung cảm, nhiều suy tư trăn trở. Tôi coi đây là bài thơ lớn của Vương Hoài Uyên nó chứa đựng trong đó nỗi niềm nhân thế của một nhà thơ giàu tâm huyết trước những đổi dời dâu bể ngoài ý muốn của cuộc đời. Nó gợi cho tôi nhớ đến bài thơ “Trên đồi Vọng Cảnh” của nhà thơ Trương Đăng Dung. Ngồi bên cạnh người yêu trên Đồi Vọng Cảnh ngắm dòng sông Hương lững lờ trôi mà nhà thơ đã thảng thốt vì cảm nhận được điều gì đó bất an.

“Anh sợ đến một ngày dòng sông ngừng trôi
Đất khô cứng những giọt buồn hóa đá
Anh sợ đến một ngày hồn anh từ cõi lạ
Trở về đây không còn có dòng sông”

Không phải chờ đến một ngày kia, không phải chờ đến mai sau mà tất cả đã trở thành hiện thực qua bài thơ của nhà thơ Vương Hoài Uyên. Dòng sông Trà Khúc êm đềm thơ mộng của ngày xưa giờ chỉ còn là như thế này đây:

“Chỉ còn ao nước nhỏ
Dưới chân cầu lặng yên
Lơ thơ vài khóm cỏ
Âm thầm mơ thảo nguyên”

Có thật vậy sao? có thật những khóm cỏ ấy đang âm thầm mơ, một giấc mơ rộng dài hay đó chỉ là giấc mơ hão huyền. Chỉ hão huyền thôi vì thế nên khóm cỏ mới âm thầm. Những khóm cỏ ấy linh cảm được rằng rồi sẽ có một ngày người ta vô tình xả lũ tùm lum, nước tràn về ngập cả đôi bờ lúa ngô cuốn phăng đi tất cả huống chi mấy khóm cỏ phù du vừa ngoi lên giữa dòng sông cạn. Rồi Vương Hoài Uyên chỉ biết:

“Soi mình trong vũng nước
Hỏi hồn sông nơi đâu
Mơ hồ nghe cá quẫy
Đau lòng chuyện bể dâu”

Mấy câu thơ đã nói hết cả rồi, những lời bình phẩm đều trở lên thừa thãi. Những câu thơ đó cứ cứa nát tim ta đến rớm máu. Nhà thơ Vương Hoài Uyên ạ ! chẳng riêng gì dòng sông Trà Khúc của chị mà những con sông trên mọi miền đất nước giờ đây đang chịu chung số phận như vậy. Đến như dòng sông Hồng hùng vĩ nhường kia giờ cũng chỉ là lô xô cồn bãi, vật vờ sậy lau. Chỉ còn lại cái lạch nước nhỏ nhoi thảm hại như con sông nội đồng. Tất cả mọi dòng sông đều bị chặt khúc, băm nhỏ ra bởi các đập thủy điện. Tất cả những tang thương dâu bể của tạo hóa, của con người nằm trọn trong các định luật bảo toàn vật chất, bảo toàn năng lượng. Được dòng điện, ta phải mất dòng sông, mất dòng sông thì dòng Đô La ào ạt chảy vào hầu bao của các ông chủ đầu tư. Lẽ đời dâu bể mà giản đơn sòng phẳng vậy đó. Nhà thơ có khóc thế, có buồn đau thế chứ khóc nữa đến cạn dòng nước mắt và buồn đau cho đến hết cuộc đời thì nó vẫn vậy chẳng thể nào đổi thay. Dòng sông không còn nữa vầng trăng của ngày xưa khi trở về đây cũng chỉ biết mơ thôi một bến sông xưa cũ. Những con đò ngày xưa lả lướt trên sông giờ nằm gác mái phơi mình trên những bãi bồi mênh mông:

“Trăng về nơi cuối bãi
Ngỡ ngàng mơ bến sông
Con đò xưa gác mái
Trên bãi bồi mênh mông.”

Chắc chắn một điều những dòng sông ngàn đời đã “GẦM LÊN KHÚC ĐỘC HÀNH” chỉ tồn tại trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng mà thôi./.

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *