logo

THỜI GIAN TRONG THƠ LÊ HÀ

Dưới những bài thơ Lê Hà ít khi ghi dấu mốc thời gian. Nhưng căn cứ vào năm ra đời tập thơ đầu lòng của chị-2008 và chất thơ nhiều hư ảo, nhiều tiếc nuối, nhiều trải nghiệm và cũng lắm đa đoan của cái tuổi tri thiên mệnh, tôi nghĩ chị chỉ làm thơ sau ngày nghỉ hưu.

Các nhà thơ khác thường chỉ viết về tháng Ba và tháng Tám. Nhưng với Lê Hà tháng nào trong năm chị cũng lưu dấu vào trong thơ mình. Những bài thơ thời gian của chị có bài đã chiếm trọn cảm xúc của tôi.
Tôi còn nhớ một câu thơ đẫm chất phồn thực của Xuân Diệu khi viết về tháng Giêng:

“Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”

Còn với tháng Giêng của Lê Hà có một điều gì đó mà chúng ta rất khó lý giải:

“Tháng Giêng ừ nhỉ tháng Giêng
Trăng nghiêng lá lúa, mưa mềm mắt em
Tháng Giêng nhớ-tháng giêng quên
Vẫn con bướm ấy đậu thềm ngủ mơ …”

Nếu không có một khả năng thấu cảm tinh tế và không có một tình yêu thương và biết chia sẻ với thiên nhiên làm sao Lê Hà có thể khám phá được vẻ đẹp vừa trinh nguyên vừa thơ mộng đó của tháng Giêng. Trăng thì mảnh mai như cái lá lúa chao nghiêng lúng la lúng liếng. Còn mưa thì ít ỏi thôi chỉ ĐỦ MỀM MẮT EM chứ không làm ướt, làm lạnh bờ mi. Và mỗi tháng giêng về cứ gieo vào lòng Lê Hà nỗi nhớ niềm quên. Nhớ về những kỷ niệm đầu đời cứ mỗi tháng Giêng về hội làng hội xuân anh bên em. Còn cứ cố quên nó nhưng lại không thể nào quên kể cả nỗi niềm đau đớn xót xa cũng không thể quên. Nhớ cả con bướm của ngày xửa ngày xưa vẫn đậu bên thềm ngủ mơ – Giấc mơ của bao năm rồi và nó còn mơ đến bao năm nữa. Nhà thơ không nhận chân được đã bao năm tháng qua đi mà chỉ như đang trong giấc ngủ mơ thấy thời gian ngừng trôi. Ôi con bướm ấy đã thuộc về kỷ niệm mà thời gian có khắc nghiệt bao nhiêu cũng không thể xóa nhòa phai nhạt. Khổ thơ chỉ bốn câu mà điệp khúc THÁNG GIÊNG cứ lặp đi lặp lại để đưa ta về với một tháng Giêng không thể nào quên. Điều đó đã khẳng định Lê Hà không viết về một tháng Giêng của đất trời mà viết về một tháng Giêng của chị.
Trong cảm thức ấy về thời gian Lê Hà đã buông vào đây hai câu thơ làm buốt nhói lòng ta:

“ Buông mình nhuộm tháng Giêng xanh
Gom khao khát níu mây tình chiêm bao”

Còn với tháng Ba thì không hiểu sao Lê Hà lại buông vào đây hai từ khắc khoải? Phải chăng vì tháng Ba là tháng đẹp nhất trong năm. Ở đó là hoa là, là đất trời hòa quyện bù đắp cho nhau để mùa xuân luôn thuộc về vẻ đẹp của vĩnh hằng. Người ta là vậy khi đã trải qua những gió mưa giông bão và mất mát thương đau thường thấy lòng mình khắc khoải khi mùa xuân về. Mọi vẻ đẹp của cuộc đời của đất trời thường làm cho lòng người khắc khoải. Còn Với Lê Hà Tháng Ba lại là cái tháng để lại nỗi đau của ly biệt:

“Tháng ba hoa thắp lửa
Tiễn anh qua bến sông
Con đò thương úp mặt
Mưa nhòe đôi bờ mong”

Tôi vốn dị có một con tim đa cảm, đã bao lần tôi ngồi khóc thương trước những bài thơ câu thơ của cuộc đời và lần này nữa mắt tôi cứ rân rấn nước ngồi khóc thương trước bài thơ của Lê Hà. Hoa gạo thì cứ bừng bừng thắp lửa. Nhưng đó là thứ lửa hình ngọn nến – thứ lửa người ta thường thắp trên những ban thờ. Có phải vậy chăng mà nhà thơ Trinh Đường cũng đã viết về loài hoa gạo ấy khi người vợ tiễn đưa chồng ra trận:

“Nắng lên hoa gạo lưng trời đỏ
Thắp nến bừng bừng giữa ánh trưa
Em tiễn anh đi như ngọn lửa
Ấm lòng anh mãi chiến trường xa”

Nói là để sưởi lòng anh nhưng đã có bao nhiêu người ra đi, đi mãi không về.
Lê Hà vẫn viết về ký ức thời gian của riêng mình. Tháng Ba ấy em đã tiễn anh qua bến sông để ra trận. Có điều gì đó như thuộc về tâm linh. Con đò thương anh, con đò thương em, con đò thương cho bao cuộc chia ly. Con đò không dám nhìn vào những dòng nước mắt chảy dài trên má những thiếu nữ đưa tiễn người yêu nên con đò phải úp mặt xuống? Còn mưa tháng Ba cứ nhòe đi như muốn xóa nhòa bóng dáng người thương khi họ đã đôi bờ cách biệt.
Từ bờ sông xưa – bờ sông đã chứng kiến cuộc chia ly vĩnh viễn của hai con người yêu nhau. Nhà thơ trở về và không biết làm gì chị đã cầu xin nơi cõi Phật thế nhưng:

“Lên chùa thắp tuần hương
Cầu một ngày trở lại
Chập chờn hoa gạo cháy
Phật hiền mà không thiêng”

Ta phải hiểu giữa hai tháng Ba này đã có một khoảng thời gian cách biệt. Dù hoa gạo của ngày xưa và hoa gạo của bây giờ vẫn vậy. Nhưng đối với Lê Hà thì không như thế. Hoa gạo ngày xưa vẫn còn như lửa vẫn thắp lên trong lòng chị, trong lòng người yêu ngày trở về. Nhưng hoa gạo bây giờ có cái gì cứ chập chờn, chập chờn cháy như ngọn lửa của ma trơi. Đức Phật chỉ có dáng dấp hiền từ thôi chứ không thể cứu giúp chúng sinh, cứu giúp Lê Hà đoàn tụ!
Rồi với hai câu kết thật bơ vơ. Hình như nhà thơ không còn nhận chân nỏi thế giớ khách quan mà chỉ sống bằng thế giới nội tâm của riêng mình. Tháng Ba tươi non và bừng bừng sức sống như thế nhưng đối với chị khi đức Phật không thể cứu rỗi chúng sinh thì tháng Ba chỉ là:

“Những tháng Ba khắc khoải
Gieo lá vàng vào thu”

Tháng Bảy là tháng của nước mắt. Nhưng Ngưu Lang Chức Nữ còn có “Vào Mùng ba ra mùng bảy” tức là có được năm ngày sau một năm chờ đợi rồi họ còn có điều để ấp ủ chờ ngày này năm sau. Còn Lê Hà như chị đã giãi bày trong bài THÁNG BA KHẮC KHOẢI và vì thế khi mỗi tháng Bảy về:

“Mùa ngâu nắng cớm
Tiếng chuông buông
Bến Bồ Đề vàng lá rụng
Giọt mưa ngâu bắc cầu thời gian
Tôi gom những lá vàng
Nghe mơ hồ bao điều sờ sững”

Ta bàng hoàng khi nắng tháng Bảy không làm cớm cỏ cây mà nó làm cớm tiếng chuông – Tiếng chuông nguyện hồn ai. Tiếng chuông gọi hồn của Nguyễn Du đánh thức các oan hồn của thập loại chúng sinh cũng bị nắng cớm thử hỏi tiếng chuông ấy còn đủ độ âm vang để mà đánh thức? Và ở cái bến Bồ Đề của ngày xưa chỉ còn những chiếc lá vàng vô cảm rụng rơi. Rơi vào đâu? Chắc rằng tiếng lá rơi sẽ làm cho lòng Lê Hà thổn thức khi nghĩ về những giọt ngâu còn biết bắc cầu cho thời gian của năm trước đến với năm sau và cho lứa đôi đoàn tụ. Còn Lê Hà chỉ biết gom những chiếc lá vàng úa để tự nghe những nỗi niềm sờ sững mà thôi. Vâng chị đã sững sờ trước tất cả thế giới khách quan của cuộc đời. Sững sờ ngay cả với khu vườn nơi ngày xưa anh thường ngồi nghe em chơi những bản nhạc trầm buồn của các nhạc sỹ thiên tài. mà giờ đây:

“Tháng Bảy nắng cớm vườn
Muốn thăm lại e lạc bước
Lỡ khi no gió nắng
Bướm mê lạc lối về”

Nắng cớm tiếng chuông và cớm luôn cả khu vườn xưa của chị. Muốn lắm được về lại khu vườn nhưng lòng cứ hoang mang với bao điều sợ hãi. Chẳng hiểu vì sao chỉ là con bướm mê chứ không phải là con người. Ta bắt gặp trong thơ Lê Hà nhiều lần chị đã gửi gắm vào con bướm. Phải chăng chị đã đọc Hồn bướm mơ tiên hay nghĩ đến đôi bướm trong phim Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài? Chỉ là con bướm lạc bước thôi. Sao chị không dám tự thú lòng mình trong chính thơ mình ? Nhà thơ đã gửi lòng mình theo tiếng nhạc bổng trầm nhưng âm nhạc làm sao có thể thay hết được tiếng lòng của một trái tim mong manh và đa cảm của Lê Hà:

“Tháng Bảy dong dóng ngày cong
Cung giáng cung thăng lẽ nào nói hết”

Vẫn còn đó những tháng của năm. Nhưng sau những chia ly dằn vặt của mùa ngâu giờ đây tâm trạng của Lê Hà đã bắt đầu có một điều gì đó làm xao động tâm hồn và tôi, tôi đã bắt đầu thấy cảm xúc của mình bị lạc hướng khi trong bài THÁNG TÁM chị viết:

“Tháng Tám mưa nắng thất thường
Heo may chạm ngõ chiêu chơm chớm chiều
Mùa ngâu chưa một bước liều
Vẫn e có nhịp cầu treo bập bềnh”

Đã có một niềm đam mê bắt đầu dằng xé. Vẫn chưa dám bước liều qua nhịp cầu Ô Thước nhưng hình như vẫn còn đâu đó một nhịp cầu treo tuy bập bềnh để đưa mình qua bến bờ của hy vọng. Rồi chị bắt đầu biết gom nhặt chắt chiu:

‘”Gom mưa hứng nắng để dành
Cho thơ mơ ngủ gieo vần chiêm bao”

Thì ra vẫn không phải là thực mà vẫn chỉ là mơ ngủ là chiêm bao và cho thơ thôi …
Vẫn còn đó một tháng Chín để cho Lê Hà:

“ Bây giờ thu đã nửa vời
Em tô nỗi nhớ lên môi gọi bùa”

Một lần nữa tôi lại đau đáu thổn thức vì thơ. Vì ở đây không phải tô son cho đôi môi hồng đón đợi mà tô nỗi nhớ lên môi. Hỏi có gì vô vọng hơn như thế. Tưởng tô nỗi nhớ về anh nhưng không. Tô nỗi nhớ chỉ để gọi một lá bùa và bùa gì ta không thể biết! Đó mới chính là nỗi đau của những người đọc.
Tháng Mười lại về với nhà thơ. Nhưng ở đây lại có một điều gì đó như một sự thờ ơ:

“Tháng Mười nắng bén mây cong
Heo may cuối ngõ đầu đông cải vàng
Ta ngồi chắp sợi đa đoan
Tháng Mười đủng đỉnh mùa sang cũng gần”

Rồi một lời tự thán lặng thầm:
“Đi sao hết khúc lở bồi
Đò ngang bến đợi tháng Mười chưa qua”

Vẫn chỉ là giấc mơ. Giấc mơ này chồng lên giấc mơ kia và vẫn là giấc mơ được cùng anh xanh lên màu xanh củ hy vọng

“ Tháng Mười cầm một giấc mơ
Cùng anh gieo hạt ươm mùa…tự xanh”

THÁNG MƯỜI MỘT là bài thơ mà chất hư ảo và phi lí ở đây đã đi đến tận cùng. Không hiểu sao cảm xúc và trí tuệ tôi không thể tiếp cận được. Tôi xin được chép nguyên văn bài thơ vào đây để những ai chưa có may mắn đọc thơ Lê Hà cùng cảm nhận:

THÁNG MƯỜI MỘT
“Tháng Mười Một gió bắc về rũ lá
Bắt gặp nơi ngã ba cây
Gã tắc kè huênh hoang
Cõng giấc mơ lên ngọn mối lái
Chạnh lòng với ý nghĩ khẳng khiu
Đếm bước tới trưa
Gặp điều ngoảnh mặt
Niềm đam mê …
Không dám bước liều
Tháng Mười Một nghe sóng lòng vênh cong bờ khát
Mưa dầm gió bấc bỏ bùa bước chân
Cầm câu thơ cũ
Làm thuyền
Đem dại khờ vượt thác hồn nhiên.”

THÁNG MƯỜI HAI một bài thơ chứa đựng tâm trạng bất an của nhà thơ . Ở đó có nỗi thao thức về thơ của một thời và có lẽ là cả một đời:

“Ngõ nhỏ đêm có cánh
Ta thao thức làm thơ cho một thời
Trước ngọn đèn mờ tỏ
Lời hẹn đắm chìm không trở lại với sông”

Lời hẹn tháng Ba bên sông có con thuyền úp mặt, có cơn mưa nhạt nhòa giờ đây không trở lại chỉ còn lại mình em thao thức cho một thời để nhớ để yêu và cho một đời chờ đợi …
Và lại giấc mơ:

“ Ngõ nhỏ dấu mình
Mang giấc mơ đặt lên ô cửa”

Giấc mơ bây giờ là giấc mơ của ngõ nhỏ chứ không phải của con người. Trong cái ngõ nhỏ cô đơn ấy chỉ có mình em ngồi làm thơ, ngõ nhỏ thương em nhẹ nhàng và dấu mình đặt giấc mơ lên ô cửa để ủ ấm cho em niềm hy vọng …

“ Tháng Mười Hai rẽ gió
Con chim sẻ tha rác dằn mình”

Cái gió lạnh của tháng Mười Hai đã nhắc nhở con chim sẽ phải tha rác thêm cho tổ ấm. Còn:

“Mẹ ngả nghiêng
Mùa đông còn chút nào rét nốt”

Những đợt rét cuối mùa làm cho mẹ ngả nghiêng nhưng sao vẫn không buông tha mà còn trút lên đời mẹ đợt gió này đến đợt gió khác .
Thông thường chim cuốc chỉ gọi đồng vào mùa hạ. Nhưng hình như con cuốc của Lê Hà có gì đó thảng thốt? Phải chăng vì gió lạnh làm chim cuốc giật mình:

“Con cuốc gọi đồng xa
Buộc bến chờ vào thơ
Cho lòng rơm rớm cháy”

Tiếng chim cuốc đã đánh thức thi nhân và rồi những vần thơ chờ đợi cứ cháy lên thiêu đốt cõi lòng. Một chu kỳ của thời gian đã kết thúc và rồi một chu kỳ mới nữa bắt đầu. Thời gian thì trôi đi nhưng thơ – những vần thơ có lửa cứ thiêu đốt cõi lòng thi nhân …
Bắc Ninh những ngày tháng Tám

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *