logo

THỬ TÌM CÁCH TIÊP CẬN ĐỂ NHẬN DIỆN VAI TRÒ CỦA NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH ĐỐI VỚI NỀN THI CA HIỆN ĐẠI

THỬ TÌM MỘT CÁCH TIẾP CẬN

ĐỂ NHẬN DIỆN VAI TRÒ CỦA

NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH

ĐỐI VỚI NỀN THI CA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

NGUYỄN XUÂN DƯƠNG

Thông thường những bài viết về vai trò của một cá nhân trong giới văn chương rất khó tìm thấy sự đồng thuận của một ai đó. Suy cho cùng tìm được một người đồng thuận với mình trong giới văn chương còn khó hơn mò kim đáy bể. Ngày xưa đã như thế và bây giờ vẫn như thế. Cổ nhân đã dạy “Văn mình vợ người”.
Tôi cũng rất tâm đắc với câu thơ tự bộc lộ mình một cách rất dũng cảm của Nhà thơ T.T.H: “Chàng thi sĩ cứ thơ mình mà đọc. Trong làng văn chàng chỉ phục mình chàng”. Cứ phải chờ cho đến khi, đến lúc người ta đã trở về với cát bụi thì lại xúm nhau vào khen chê. Sự khen, chê đó đều là bất nhẫn. Hãy dẹp bỏ thói hẹp hòi đố kỵ để cho những ai có thực tài được hưởng niềm hạnh phúc vinh quang mà họ xứng đáng được hưởng khi đương thời. Khi đã trở về với cát bụi thì việc khen chê đối với họ đều trở nên vô nghĩa.
Trong bối cảnh nền văn học như hiện nay ở nước ta cần thiết phải có những lời khen chê rạch ròi, đúng mực. Trong lĩnh vực này tôi coi Nhà thơ nữ N.T.Q là một Nhà thơ dũng cảm, đã đưa ra những lời cáo trạng đanh thép về chất lượng cũng như về nhân cách của Nhà thơ Việt Nam hiện đại.
Trong “Về một Nhà thơ” N.T.Q đã viết:
“Quanh ngôi đền thiêng
Mặt vàng, mặt xanh chụm vào nhau thì thụt
Móng vuốt diều hâu găm xuống mặt bàn
Những cái nhìn âm u
Trận mưa ngôn từ rào rào
Nhân danh sự tử tế
Nhân danh thơ
Cuộc cắn xé bắt đầu”.
Trong “Đọc thơ ngày mất điện” N.T.Q lại viết:
“Thấy thơ lông bông trăng sao
Váy áo lòe xòe nhởn nhơ hoa bướm
Vung tay nhổ bọt chửi thề trong quán bia
Cao giọng những tín điều sáo rỗng
Hổn hển chiếu chăn
Loay hoay chữ vần, ngả nghiêng ký tự
Chủ nghĩa nọ, trường phái kia
Cãi nhau hàng thế kỷ
Chẳng thể làm cho hạt thóc vì thế mà nảy mầm”
Thật thảm hại ! Thơ như thế, cãi nhau như thế, họ giúp ích gì cho cuộc đời này không ?
Trong cuộc hội nghị phê bình văn học ở Đồ Sơn, người ta đối thoại với nhau không bằng văn chương, bằng lý luận phê bình mà bằng nắm đấm. Mạnh ai người ấy leo lên bục phát biểu. Rồi ở Hội trường Hội Nhà văn Việt Nam – nơi tưởng được quy tụ lòng nhân ái và chân, thiện, mỹ họ cũng lại choảng nhau, mạt sát nhau bằng cẳng chân cẳng tay với bạn bè đồng nghiệp. Chuyện xảy ra đối với những nhà văn tầm cỡ được nhận giải thưởng cao nhất.
Trong bối cảnh như vậy vẫn còn những Nhà thơ sống có trách nhiệm công dân với cuộc đời, với đồng loại khi ông viết:
“Viết được một câu thơ trung thực với nhân dân
Tôi phải đi qua bốn mươi năm bão táp”
Bài viết này của tôi là tìm cách tiếp cận, để so sánh nhận diện vai trò của Nhà thơ đó – Trần Nhuận Minh đối với nền thi ca Việt Nam hiện đại.
Tôi xin ngược dòng lịch sử để nêu lên một số tên tuổi điển hình.
* Các Nhà thơ cổ điển:
+ Trần Nhân Tông – Thơ của bậc đại thánh.
+ Nguyễn Trãi – Thơ của bậc đại nhân
+ Nguyễn Du – Thơ của bậc đại tình
+ Cao Bá Quát – Thơ của bậc trí dũng
* Các Nhà thơ cận đại trong phong trào thơ mới đã tạo ra một thời đại văn chương (vẫn chỉ là một số đại diện): Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh… thì ngày nay họ đã trở về với cát bụi ôm trong lòng cả một nền thơ mới đã bị nền chuyên chính vô sản, chủ nghĩa giáo điều trong văn chương, cái ta hợp tác hóa văn chương cùng với sự hẹp hòi đố kỵ chôn vùi suốt 40 năm (1945 – 1985).
Cách mạng tháng Tám thành công – một kỷ nguyên mới của dân tộc được mở ra. Rồi cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ chống thực dân Pháp. Các Nhà thơ mới đã nghe theo tiếng gọi của giang sơn và đất nước tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ. Họ trở thành những cán bộ làm công tác văn hóa, văn nghệ phục vụ kháng chiến. Ngoài Xuân Diệu có một số tác phẩm viết những năm đầu cách mạng, còn tất cả đang án binh bất động. Phải đến sau ngày hòa bình lập lại vào những năm đầu thập kỷ 60 thì tác phẩm của họ mới được nở rộ. Nhưng như trên tôi đã nói cái ta hợp tác hóa trong văn chương nền chuyên chính vô sản được thiết lập đã hủy hoại nhiều tài năng sáng tạo của lớp nhà thơ nổi lên như cồn chỉ ở tuổi 16, đôi mươi. Tôi cũng chỉ xin đơn cử một số tác phẩm và tác giả.
Huy Cận có “Trời mỗi ngày lại sáng” nhưng là thứ ánh sáng của “Con cá song lấp lánh đuốc đen hồng”. Hỏi có thể chiếu sáng được điều gì và ngay sau đó là một câu thơ minh họa tài hoa: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Sóng đã cài then đêm sập cửa”. Màn đêm đã buông xuống xóa nốt đi ánh hoàng hôn kỳ ảo trên vịnh Hạ Long – nơi những năm đầu ông đi thực tế về cuốc than ở Quảng Ninh. Không hiểu từ đó đến nay có ai còn nhớ đến, nghĩ đến và giở “Trời mỗi ngày lại sáng” để hiểu được đã sáng thật chưa hay vẫn còn là ánh sáng từ con cá song. Huy Cận chỉ có hai bài thơ thấm đẫm nỗi đau đời, nỗi đau nhân thế: “Mười tám vị La Hán trong chùa Tây Phương” và “Tràng Giang” là còn mãi với thời gian.
Tế Hanh có “Gửi miền Bắc” giờ non sông đã liền một dải còn đâu phân chia Bắc Nam để có thể gửi thương gửi nhớ cho nhau. Và trong thời kinh tế thị trường này gửi nhớ thương hình như là một điều xa xỉ.
Xuân Diệu có “Riêng chung”. Đặc biệt ông có bài “Ngói mới” đi đâu, đến đâu ông cũng đọc “Ngói mới”. Những từ “Ngói mới” trập trùng nhấp nhô. Nói là riêng chứ còn đâu cái riêng của tác giả và ngói mới bây giờ đã bê tông hóa nhiều rồi. Sự cách biệt giàu nghèo đến muôn trượng. Những biệt thự hàng triệu đô tọa lạc cả một khuôn viên rộng lớn đắc địa ở các kinh thành của những ông quan, các ông thầy cách mạng như “Bác Vương Liên” của Trần Nhuận Minh, đối trọng với những căn nhà xiêu vẹo không đủ che nắng che mưa, những căn nhà vượt lũ được Nhà nước bao cấp nhưng chưa ở đã sập, đã đổ nát tiêu điều. Còn nhân dân ngày xưa của ông nơi ông đã viết: “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi. Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu” thì bây giờ có Nhà thơ đã viết: Muốn biết nhân dân bây giờ ở đâu và sống như thế nào phải ra các chợ cóc, chợ xanh, phải đến các bệnh viện, vào cổng trường học. Vâng, những gì trong riêng chung và trong bao nhiêu tập thơ khác của ông giờ hoàn toàn đã trở nên xa lạ trước những bể dâu dời đổi do kinh tế thị trường thiết lập. Chẳng còn ai đọc lại ông ngoài những nhà nghiªn cøu văn học sử, những sinh viên làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
Chế Lan Viên có “Ánh sáng phù sa”. Ánh sáng phù sa đâu chẳng thấy, chỉ thấy nước lũ ngang trời thủy điện thi nhau xả lũ, lũ ống lũ quét đất đá ngổn ngang, nhà cửa tiêu điều đổ nát, sách vở, trường học, ruộng đồng ngập lụt. Cũng chẳng còn ai cùng ngồi trên con tàu đi Tây Bắc của ông nữa để cùng tận hưởng hương vị ngọt ngào: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”.
Thực tế đã là như thế. Ngày xưa một thời tôi đã đọc Tế Hanh, Chế Lan Viên. Dù hơn 50 năm qua tôi vẫn thuộc rất nhiều bài thơ của hai ông. Nhưng xu thế đương đại đã không chấp nhận được sự ấu trĩ trong văn chương, thứ văn chương đã được cái ta hợp tác hóa, hủy hoại. Đến lúc cái tôi đã được giải phóng thì các ông cũng đã không kịp thức ngộ nữa rồi. Ngồi viết được mấy dòng di cảo để rồi bụi thời gian lại phủ mờ. Tất cả đã ra đi. Tất cả đã trở thành lịch sử.
Các Nhà thơ thời tiền chiến. Có một điều rất lạ, các Nhà thơ này nổi danh như sóng cồn chỉ nhờ vào một bài thơ. Trong đó có:
Hữu Loan với “Màu tím hoa sim”. Nhưng màu tím hoa sim nổi tiếng bao nhiêu thì cuộc đời của ông lại cay đắng bấy nhiêu. Nhân Văn Giai Phẩm đã đẩy ông về đập đá mưu sinh. Đập đá cho đến giọt mồ hôi cuối cùng, hơi thở cuối cùng. Mồ hôi thấm đá còn nặng hơn cả đá ông đã đem bán cho cõi người để dựng xây và cungdx để tàn phá. “Màu tím hoa sim” là bài thơ có giá bản quyền vào hàng kỷ lục ghi-nét ở Việt Nam – 150.000.000đ. Có lẽ vị mạnh thường Quân nào đó thấy ông sống qúa nghèo khổ đã tài trợ cho ông bằng con đường khẳng định sự vĩ đại của bài thơ để khỏi chạm vào lòng tự ái của ông nhưng ông đã ra đi nên tiền đối với ông đã trở thành vô nghĩa.
Hoàng Cầm với “Bên kia sông Đuống”. Bài thơ lớn khái quát được cả một giai đoạn lịch sử với âm hưởng khi trầm hùng, khi bi tráng. Sự nồi tiếng của “Bên kia sông Đuống” lại đẩy ông đến với Nhân Văn Giai phẩm và đẩy ông vào chốn tù đày suốt 12 năm. Ôi cái giá của văn chương sao mà thảm khốc như thế. Biết lấy gì để cân đong đo đếm.
Vũ Cao với “Núi đôi” – bài thơ có cùng mô típ với “Màu tím hoa sim”. “Núi đôi” được nhiều người biết, nhiều người đọc và nhiều người thuộc nhất là những người lính cụ Hồ trong thời kháng chiến chống Pháp. Đặc biệt ông có câu thơ “Anh đi bộ đội sao trên mũ” đã được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lấy làm tựa đề cho bài phát biểu của mình nhân kỷ niệm 69 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam.
Hoàng Trung Thông với “Bài ca vỡ đất”: “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” nhưng thực tế có sức người sỏi đá chưa thành cơm. Hợp tác hóa nông nghiệp đã tàn phá nền kinh tế nông nghiệp của đất nước. Một đất nước giàu tiềm năng như vậy mà chỉ có “sắn khoai quắt cả người” và hạt bo bo, ngô răng ngựa là viện trợ của nước ngoài.
Nguyễn Đình Thi với những cách tân trong thi pháp mang tính hiện đại của thi ca Việt Nam. Có lẽ nếu không có Đại hội Văn nghệ 1952 Nguyễn Đình Thi sẽ là ngọn đuốc soi đường cho Văn học Việt Nam. Nhưng ! Bao giờ cũng tồn tại một chữ nhưng. Những ý tưởng cách tân đổi mới của ông đã bị chủ nghĩa giáo điều phê phán nghiêm khắc.
Còn ai nữa ? Tất cả cũng đã đi vào cõi vĩnh hằng.
Lớp Nhà thơ thời chống Mỹ. Đây là thế hệ Nhà thơ hùng hậu nhất, đông đảo nhất có thể tóm gọn trong một câu: Các Nhà thơ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Thơ họ rừng rực lửa chiến đấu. Có những bài thơ có sức mạnh của một binh đoàn, một quân đoàn. Những bài thơ lay thức động viên hàng triệu con tim trẻ tuổi rùng rùng ra trận.
Chiến tranh kết thúc những Nhà thơ cầm súng lại trở về với cuộc sống đời thường, với trăm ngàn cam go vất vả mưu sinh. Người không còn vẹn nguyên, người cửa nhà bị chiến tranh tàn phá mất vợ, mất con. Rồi những đổi thay dâu bể. Tất cả những gì đang diễn ra xung quanh họ không như họ khát vọng mà họ đã không hề tiếc máu xương để bảo vệ. Tất cả những điều đó đã hủy hoại đi sức sáng tạo của họ trong chiến tranh. Giờ viết gì đây ? Viết thế nào đây ? Họ không dám từ bỏ quá khứ vinh quang của mình và cứ tự huyễn hoặc với vinh quang đó. Sau chiến tranh chống Mỹ chưa có một tác phẩm văn chương nào xứng với tầm thời đại. Thời kinh tế thị trường ùa vào đất nước, cái tôi trong kinh tế và cái tôi trong văn chương được giải phóng. Có những Nhà thơ đã đẩy cái tôi đi vào chỗ bế tắc, họ viết rất nhiều bài thơ mang tính hoài niệm xót đau, tiếc nuối những giá trị nhân văn, nhân bản bị băng hoại. Họ lại ngồi khóc thương những xóm làng đã đô thị hóa, họ ngồi nhớ đồng đến da diết. Họ “Có quê mà lại như người không quê”. Chỉ có vậy thôi, không ai dám giã từ dĩ vãng để lột xác, để tự đổi mới mình. Một số Nhà thơ lại lao vào cách tân tìm kiếm sự đổi mới bằng thứ thơ lai căng: Thơ tân hình thức, thơ hậu hiện đại, thơ không cần để hiểu…
Xin được nhận diện một vài gương mặt tiêu biểu nhất:
+ Nguyễn Khoa Điềm – Nhà thơ làm chính trị. Đã làm chính trị là phải đấu tranh giai cấp, phải đánh thù trong giặc ngoài. Không những thế ông còn đánh luôn cả đồng nghiệp bạn bè văn chương. Đúng như Trần Nhuận Minh đã viết “Quan sang cũng có thì” và cái thì của ông đã hết. Ông về hưu bỏ trở về cố đô Huế sống nốt những năm tháng còn lại của cuộc đời như tất cả những người nghỉ hưu khác. Nhưng Huế nhiều mưa và rất nhiều mưa nên tâm hồn người ta thường vẩn vơ một nỗi buồn man mác. Cái điện thoại để trên bàn, bỏ trong túi suốt ngày không kêu không rung. Thế là một con người đã ở tột đỉnh quyền lực và chức vụ lại đâm ra mặc cảm rồi phân bua với người đời giờ mình đang ở “ngoài vùng phủ sóng”. Cảm thán về cảnh hiện tại của mình ông đã viết bài thơ “Ngoài vùng phủ sóng”. Bài thơ được đặt trang trọng trên trang nhất Tạp chí thơ. Tôi nghĩ cụm từ “ngoài vùng phủ sóng” ấy là của các cậu ấm cô chiêu bị người tình phụ bạc nên không ai gọi điện mới than thân mình bị đẩy ra “ngoài vùng phủ sóng”.
Hữu Thỉnh – người đang thâu tóm mọi ngai vàng của văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông đã có một tập thơ “Thương lượng với thời gian”. Không hiểu giữa thời gian và ông có thỏa thuận gì với nhau về thời gian được tại vị trên ngai vàng đó. Nhưng chắc chắn thời gian đã nhượng bộ để ông tại vị nó đến chung thân. Suy cho cùng ở Việt Nam chẳng còn ai hơn ông để giữ cái ngai vàng đó. Đang ở trên ngôi cao bao giờ người ta cũng sợ ngã, phải lo chắn che, chống đỡ. Vì vậy ông không thể còn thời gian để sáng tạo thi ca.
Trên đây tôi đã có một quá trình nhận diện để thanh lọc. Ngự trị trên ngai vàng quản lý văn chương là ông Hữu Thỉnh. Còn ngự trên ngai vàng nghệ thuật thi ca Việt Nam hiện đại là ai ? Tôi xin khẳng định đó là Nhà thơ Trần Nhuận Minh. Tôi hiểu rằng ý kiến đó của tôi sẽ nhận được rất ít sự đồng thuận. Nhưng tôi tin ở Việt Nam chắc chắn có một người đồng thuận với tôi một cách tuyệt đối – đó là ông Thái Doãn Hiểu. Người đang định xuất bản cuốn sách đồ sộ hơn 4000 trang “Thi nhân Việt Nam hiện đại”. Ông Thái Doãn Hiểu xếp Nhà thơ Trần Nhuận Minh lên đầu sách với suy nghĩ hoặc có thể là khẳng định: “Trần Nhuận Minh là vị đại nguyên soái vác đại đao tả xung hữu đột trên mặt trận thi ca Việt Nam hiện đại”. Đó là suy nghĩ độc đáo và táo bạo, có lẽ vì thế ít có sự đồng thuận. Mặc dù bản thảo “Thi nhân Việt Nam hiện đại” của ông đã hoàn chỉnh từ rất lâu nhưng đến nay sách vẫn chưa xuất bản.
Trước hết Trần Nhuận Minh là Nhà thơ dũng cảm, ông dám từ bỏ ánh hào quang của quá khứ để thiết lập cho mình một nền tảng nhận thức mới về vũ trụ và xã hội một cách công bằng hơn, minh triết hơn. Tuyển tập “Bốn mùa” đã minh chứng đủ đầy cho điều đó.
Tôi luôn khẳng định rằng hành trình của thơ Trần Nhuận Minh là hành trình đi tìm cái thiện, đến với cái thiện và truyền bá cái thiện. Hành trình đi đến tận cùng bản ngã của cõi người. Về tuyển tập thơ “Bốn mùa” của ông tôi đã có bài viết “Trái đất quay trong hy vọng khôn cùng” đăng trên vietvanmoi.com.
Xin được khẳng định rằng chưa có một tập thơ nào ở Việt Nam có sức mạnh lay thức như “Bốn mùa” của Trần Nhuận Minh. Những câu thơ như muối, những câu thơ như trống, những câu thơ như lửa, không chỉ chảy xót xa, đánh liên hồi, cháy không nguôi trong máu, trong tim, trong xương cốt Trần Nhuận Minh mà còn là trong máu, trong tim, trong xương cốt của cõi người. Đó là sức mạnh lay thức, sức mạnh cảm hóa kỳ diệu của thơ Trần Nhuận Minh. Thơ ông bồi đắp cho ta những giá trị lớn lao và mới mẻ về nhận thức, về tính nhân bản, nhân văn của cõi người rồi đốt lên trong lòng người đọc ngọn lửa của yêu thương và khát vọng làm người.
“Bốn mùa” của Trần Nhuận Minh hội tụ được đủ đầy chất đại thánh trong thơ Trần Nhân Tông, chất đại nhân trong thơ Nguyễn Trãi, chất đại tình trong thơ Nguyễn Du. Có thể nói ở Việt Nam trước đây có Nguyễn Du và bây giờ có Trần Nhuận Minh mới dám đem thơ mình – những vần thơ viết bằng máu và nước mắt để khóc thương thập loại chúng sinh, đem lòng nhân ái của mình như muốn tưới nhuận vào cõi người. Thơ ông còn hội tụ được chất trí dũng trong thơ Cao Bá Quát. Xin trích một số câu thơ của ông.
Câu thơ có tầm nhìn của bậc đại trí “Trái đất quay trong hy vọng khôn cùng”. Đại thánh “Tập thơ khép nửa mái đầu xổ bạc”. Đại nhân “Viết được một câu thơ trung thực với nhân dân. Tôi phải đi qua bốn mươi năm bão táp”. Đại dũng “Thà bất công còn hơn hỗn loạn”… Những câu thơ Đại tình thì đã lấp đầy trong thơ ông.
Ở Việt Nam chưa có một tác giả nào có tác phẩm được tái bản nhiều lần như tác phẩm của Trần Nhuận Minh. Từ khi ra đời cho đến nay “Nhà thơ và hoa cỏ” đã tái bản 25 lần. “Bốn mùa” đã tái bản 5 lần. Nghĩa là năm nào tác phẩm của Trần Nhuận Minh cũng được tái bản. Chỉ tiếc rằng tất cả những Hiệu sách nhân dân thời bao cấp đã bị kinh tế thị trường quét sạch trên dải đất hình chữ S. Vì vậy sách của Trần Nhuận Minh chỉ được bày bán ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Rất nhiều người đọc ở tỉnh lẻ muốn có được một tuyển tập thơ “Bốn mùa” chỉ là khát vọng. Thật tiếc cho người đọc và cũng thật tiếc cho thơ Trần Nhuận Minh. Thơ ông có mặt trong một thư viện ở một trường Đại học uy tín ở Mỹ. Thơ ông được nhiều sinh viên, cử nhân chọn làm Luận án tốt nghiệp cử nhân, tốt nghiệp Thạc sĩ. Tôi nghĩ để đi đến tận cùng của thơ Trần Nhuận Minh còn cần phải có những công trình nghiªn cøu có tầm cỡ những Luận án tiến sĩ.
Sau khi đọc “Bốn mùa” ta có cảm giác sám hối. Ta đã tự trách ta không hiểu chính ta, ta không hiểu cuộc đời. Tại sao ta không biết sẻ chia với nỗi đau thương mất mát của cõi người. Và có lẽ từ đây ta phải sống khác đi, phải sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn với chính ta và với cõi người. Ta hãy xích lại gần nhau, nắm tay nhau cố kết niềm tin và khát vọng để đấu tranh chống lại cái ác, giải phóng điều thiện, để xây dựng một xã hội tự do, dân chủ, công bằng và văn minh như dân tộc ta đã từng khát vọng. Đó chính là tác dụng lớn lao của thi ca Trần Nhuận Minh đối với cuộc đời.
Ý tưởng lấy ngày 28/3 – ngày vua Lê Thánh Tông cho khắc bài thơ dưới chân núi Truyền Đăng ở Hòn Gai làm ngày thơ Quảng Ninh của Trần Nhuận Minh là một ý tưởng vĩ đại và thiên tài (tôi nói ý tưởng chứ không nói con người Trần Nhuận Minh vĩ đại, thiên tài, xin đừng hiểu nhầm. Trong đời thường các Nhà thơ không phải là những bậc thiên tài nhưng lại có những câu thơ chứa đựng sự vĩ đại và thiên tài. Chính vì thế nó mới tồn tại được theo thời gian). Từ đó cứ đến ngày 28/3 hàng năm giới Văn học nghệ thuật Quảng Ninh và nhân dân Quảng Ninh có một sự kiện văn hóa trọng đại. Ngày tôn vinh thơ Quảng Ninh. Thấy được ý nghĩa to lớn và quan trọng của ngày thơ Quảng Ninh, Hội Nhà văn Việt Nam đã lấy ý tưởng đó của Trần Nhuận Minh đề nghị với Đảng và Nhà nước lấy ngày Rằm tháng Giêng ÂL hàng năm – Ngày ra đời bài thơ Nguyên Tiêu của Bác Hồ là ngày thơ Việt Nam. Đề nghị đó đã được Đảng và Nhà nước chấp nhận. Cũng từ đó đến nay đã 12 năm một sự kiện văn hóa trọng đại của dân tộc Việt Nam đã được tổ chức không chỉ ở Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội mà ở khắp 63 tỉnh thành trong cả nước. Rằm tháng Giêng đã trở thành ngày hội lớn của Văn học Việt Nam.
Đất nước Việt Nam còn, dân tộc Việt Nam còn thì thơ còn. Mà thơ còn thì ngày thơ Việt Nam cũng sẽ tồn tại theo giang sơn đất nước. Công lao đó phải được giới văn học, dân tộc Việt Nam ghi nhận cho Trần Nhuận Minh, không thể nào khác được.
Nhưng để có được tất cả mọi người đồng thuận với ý kiến đó của tôi là điều không dễ, không ai muốn vinh danh một người đương thời.
Tạo hóa rất hà khắc, nhưng tạo hóa không mù lòa, tạo hóa nhận chân được giá trị đích thực của con người. Chúng ta được tạo hóa sinh ra, là một phần của tạo hóa chúng ta cũng không được phép mù lòa.

Bắc Ninh, mùa xuân 2014
NGUYỄN XUÂN DƯƠNG

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *