logo

TỰ KHÚC CHO MÌNH

Mẹ bảo rằng sinh Nó mùa chim di
Nên bươn chải, suốt một đời lữ thứ
Kiếp thương hồ lấy xứ người trú ngụ
Mượn niềm vui thiên hạ… sưởi ấm mình.

Nó chào đời giữa đất nước điêu linh
Tháng tháng năm năm mịt mù lửa đạn
Mẹ gánh Nó gồng mình trong bạo loạn
Nắng sớm mưa chiều xã dưới làng trên.

Mẹ một mình nhưng cũng chẳng rỉ rên
Bố nơi xa, kiếp quân hành đây đó
Thương những khi đông về, đêm trở gió
Mẹ lặng thầm lo giấc ngủ tròn vuông.

Đời lính mà! Bố chỉ gửi niềm thương
Vào nỗi nhớ nơi chân trời góc bể
Vọng gác đêm khuya một mình cô lẻ
Tiếng nấc Cha như chớp biển mưa nguồn.

Nó vào đời bằng tất cả yêu thương
Bên vành nôi cùng lời ru của Mẹ
Củ sắn củ khoai, tình người san sẻ
Tháng năm dài Nó vững bước lớn khôn.

Rồi một chiều, nơi xứ lạ vào đông
Nó chợt nhớ đến dòng sông quê cũ
Chái bếp quê nghèo những ngày mưa lũ
Giọt sữa nào đã ươm Nó hôm nay.

Nó giật mình nghe khóe mắt cay cay
Cánh diều bay cũng có lần trở lại
Nó mơ mình quay về ngày thơ dại
Vùi vào lòng hit mùi rạ Mẹ yêu.

Con chim chiều cất tiếng hát cô liêu.

Nguyễn Tuyển

LỜI BÌNH

Bài thơ Tự khúc nhưng cài đặt vào đây là nỗi niềm nhân thế. Là tình mẹ đời cha và còn trong đó một chút bản ngã chưa hẳn là mạnh mẽ nhưng cũng đủ so đo với bạn bè. Một nỗi niềm tiếc nuối bâng khuâng và một chút khát vọng được trở về quê hương, chốn cũ. Bài thơ có cái giọng điệu của tang bồng phiêu lãng. Rất đúng phẩm chất TỰ KHÚC.
Bằng lời kể của mẹ và xen lẫn vào đó một đôi điều tự ngẫm, Nguyễn Tuyển cứ thế dẫn dắt ta cùng anh đi gần nửa vòng đời phiêu bạt.

“Mẹ bảo rằng sinh Nó mùa chim di
Nên bươn chải, suốt một đời lữ thứ
Kiếp thương hồ lấy xứ người trú ngụ
Mượn niềm vui thiên hạ… sưởi ấm mình.”

Sinh vào mùa chim di là loài chim nhỏ bé siêng năng và trôi dạt trên những cánh đồng nhặt tìm những hạt thóc rơi, thóc vãi. Cứ thế hết cánh đồng này đến cánh đồng khác đàn chim di mỏi cánh rồi vẫn rủ nhau bay để sinh tồn. Chỉ bằng hình tượng ấy thôi Tự khúc đã khắc hoạ gần trọn một kiếp người – Chim di. Đã là chim phải bươn trải phải đó đây lữ thứ. Những câu thơ ở đây đã miêu tả đủ đầy nỗi bươn trải cực nhọc của một đời người. Tôi yêu thích và trân trọng câu thơ: “Mượn niềm vui thiên hạ…Ấm lòng mình” Câu thơ ấy thắp bừng lên niềm tin vào cuộc sống dù có tha hương lữ thứ thì thiên hạ vẫn ban cho anh niềm vui để ấm lòng, để tồn tại.

“Nó chào đời giữa đất nước điêu linh
Tháng tháng năm năm mịt mù lửa đạn
Mẹ gánh Nó gồng mình trong bạo loạn
Nắng sớm mưa chiều xã dưới làng trên.”

Tiếp tục mới là lời kể của mẹ về những tháng năm bươn trải. Đất nước thì điêu linh chinh chiến thế mà mẹ vẫn cứ phải lặn lỗi ngược xuôi một đầu quang là NÓ còn đầu kia là gì ta không biết. Có thể đó là những món hàng đi khắp chợ cùng quê bán đổi để mẹ con có kế sinh nhai. Cũng có thể đầu kia là cả một gia tài nghèo khổ của mẹ để gánh cùng con tản cư tránh xa vùng bom rơi đạn lạc. Bốn câu thơ mà đời mẹ lam lũ tảo tần đã hiện lên sắc nét đẫm màu tang thương dâu bể. Tất cả chúng ta đều có thể rọi soi được bóng dáng mẹ mình qua khắc hoạ về người mẹ của Nguyễn Tuyển.

“Mẹ một mình nhưng cũng chẳng rỉ rên
Bố nơi xa, kiếp quân hành đây đó
Thương những khi đông về, đêm trở gió
Mẹ lặng thầm lo giấc ngủ tròn vuông.”

Vẫn chỉ như là một lời thủ thỉ nhưng qua đó tôi thấy được gia cảnh và nơi Nguyễn Tuyển sinh ra là một vùng mà trước đây ta vẫn bảo là vùng Mỹ Nguỵ. Chỉ bằng cụm từ “ Kiếp quân hành đây đó” bởi vì nếu là người lính Giải phóng chắc Nguyễn Tuyển sẽ tự hào mà không buông vào đây một câu thơ đầy sầu tủi. Kiếp quân hành đây đó giúp được gì cho mẹ. Thế mà mẹ không một tiếng rên rỉ kêu ca phận mình, phận đời. Một mình mẹ chở che cho con và cho mẹ được giấc ngủ vuông tròn đã là một điều gì đó thuộc về tấm lòng vĩ đại của người mẹ.

“Đời lính mà! Bố chỉ gửi niềm thương
Vào nỗi nhớ nơi chân trời góc bể
Vọng gác đêm khuya một mình cô lẻ
Tiếng nấc Cha như chớp biển mưa nguồn”

Cuộc đời người cha được khắc hoạ bằng những nét khắc dữ dội hơn, nhưng vẫn có chút gì đó của sự trầm luân. Cha không biết làm cách nào để gửi niềm thương nỗi nhớ về cho mẹ khi khoảng không gian là chân trời góc bể. Có gửi chăng thì nó cũng rơi rụng đi trong không gian mịt mù đạn bom khói lửa. Cha chỉ còn nấc khan. Tiếng nấc khan mà như chớp bể mưa nguồn thì tình cha ở đây rộng lớn nhưng cũng khổ đau biết chừng nào ???

“Nó vào đời bằng tất cả yêu thương
Bên vành nôi cùng lời ru của Mẹ
Củ sắn củ khoai, tình người san sẻ
Tháng năm dài Nó vững bước lớn khôn.”

Vượt qua tất cả Nó đã tồn tại, lớn khôn trong lời ru của mẹ, trong tiếng nấc của cha, trong bom gào đạn rú, trong sắn khoai nghèo khổ và trên hết thẩy là trong ấm áp tình người, để mà khôn lớn
Và bây giờ đã gần nửa đời người mưu sinh lữ thứ trong một chiều đông sương sa gió lạnh Nguyễn Tuyển mới như bừng tỉnh nhìn về quá khứ và khát vọng tương lai.

“Rồi một chiều, nơi xứ lạ vào đông
Nó chợt nhớ đến dòng sông quê cũ
Chái bếp quê nghèo những ngày mưa lũ
Giọt sữa nào đã ươm Nó hôm nay.”

Hồi tưởng về công lao của bác mẹ sinh thành đã ươm mầm để có được ngày hôm nay tuy không phải là danh vọng nhưng cũng có thể ngửng mặt lên với đời. Nơi chôn rau cắt rốn có còn con sông quê đã tắm mát tuổi thơ, có còn không khói bếp thơm mùi rạ rơm trong những ngày mưa lũ. Tất cả ký ức cứ ùa về làm cho:

“Nó giật mình nghe khóe mắt cay cay
Cánh diều bay cũng có lần trở lại
Nó mơ mình quay về ngày thơ dại
Vùi vào lòng hít mùi rạ Mẹ yêu.”

Nguyễn Tuyển đã giật mình vì lưu lạc đã nửa đời người mà không hề trở lại lấy một lần. Mắt anh cay xè giọt lệ của khổ đau xót xa ân hận. Từ NÓ ở đây lại trở về với thể tự khúc, đại từ nhân xưng chỉ ngôi thứ nhất. Ước mơ và khát vọng được trở về với tuổi bé thơ được vùi vào lòng mẹ vẫn vẹn nguyên mùi rơm rạ thuở nào. Nhưng khát vọng vẫn chỉ là khát vọng của một loài chim.

“CON CHIM CHIỀU CẤT TIẾNG HÓT CÔ LIÊU”

Bài thơ khép laị rồi mà ta như đang nhìn thấy một con người cứ lặng đứng trong chiều đông sương gió đưa đôi mắt vọng về cố hương nơi chân trời góc bể buông vào không gian một tiếng thở dài làm ướt lạnh lòng ta…

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương.
Năm sinh 1940.
Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An.
Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *