logo

VŨ NỮ CHÀM

VŨ NỮ CHÀM
Tháp Chàm
nắng đóng đinh
vũ nữ múa si mê

Ôi thời nguy nga
bỏ đi đâu
vui buồn rung chuông
tháp âm thầm sụp đổ
tôi bên tháp thấy mình đơn lẻ
thời khắc tan
còn lại những gì?

Vũ nữ oằn mình, muốn nói điều chi
thớ gạch cũ rần rật dòng máu đỏ
mình còn là mình, giữa tháng ngày nham nhở?
hơi thở cô đơn trong mạch vữa nhu mì

Một thời vàng son
một đời vàng son
rời rã, phân ly
bàn tay buông bàn tay
ký ức cựa mình lá cỏ

Vũ Từ Trang

LỜI BÌNH

Đọc Vũ Nữ Chàm của Vũ Từ Trang tôi bỗng nghĩ đến sự điêu tàn hưng phế của cuộc người. Một cuộc người dã man tàn bạo. Bởi vì sự hưng phế của quá trình lịch sử đều xuất phát từ sự dã man tàn bão và đố kị của chính con người. Được thể hiện rõ nét nhất kể từ thời Nhà Nguyễn một thời đại phong kiến đã bắt đầu tiếp cận với nền văm minh hiện đại. Sự điêu tàn hoang phế của những tháp Chàm có một cái gì đó rất giống sự điêu tàn hoang phế của Lam Kinh Triều Lê ở Thanh Hoá. Tôi luôn nghĩ sự hoang phế của Lam Kinh Thanh Hoá là do sự đố kị của triều đại kế tiếp bao giờ cũng muốn huỷ bỏ những dấu tích oai linh của thời đại trước đó. Đó là những gì mà triều Nguyễn muốn huỷ hoại. Với tháp Chàm cũng chung cái số phận của sự điêu tàn.Vì nó chính là hệ luỹ của cuộc chiến tranh xâm lược và tiêu diệt nước Chiêm Thành của triều Nguyễn, Trước đây nhà thơ Chế Lan Viên đã dành thi ca và còn thay đổi tên họ mình làm người hát rong khóc than cho một đất nước điêu tàn. Còn Vũ Từ Trang tuy chỉ là một bài thơ nhưng ông đã góp vào đây một tiếng khóc bi thiết cho những gì còn lại của đất nước Chiêm Thành chứ không như Tố Hữu đi lên án người đồng nghiệp của mình khi cao giọng “Ai lẩn thẩn nhặt từng viên gạch rã. Băng bó sườn cổ tháp đã lung lay”
Tôi vẫn luôn nghĩ nếu không có sự xâm lăng để tiêu diệt đất nước Chiêm Thành –cha đẻ của những tháp Chàm kỳ vĩ thì những ngôi đền nơi thờ cúng tổ tiên, thờ cúng thần linh của đất nước Chiêm Thành có bị điêu tàn hoang phế như những gì mà nhà thơ Vũ Từ Trang đã viết:

“Tháp Chàm
nắng đóng đinh
vũ nữ múa si mê”

Tháp Chàm ngàn đời nay đã trơ gan cùng nắng gió khắc nghiệt của miền Trung. Nhưng cái nắng bây giờ có điều gì đó thuộc về sự dã man – nắng đóng đinh, đóng đinh ai? Đóng đinh những vũ nữ Chàm đã ngàn đòi si mê múa hát trên những bức tường của tháp Chàm huyền thoại sản phẩm của dân tộc Chăm Pa chứ không phải của dân tộc Việt. Người Chăm đã bị tiêu diệt và bị đuổi tận cùng cực Nam còn ai để chăm sóc những ngôi đền linh thiêng. Giờ đây chỉ còn lại những vũ nữ đã bị nắng đóng đinh vĩnh viễn ở trên tường. Hai từ đóng đinh của Vũ Từ Trang thật tài hoa thật đắt giá. Những vũ nữ Chàm chỉ biết si mê múa hát dưới sự khắc nghiệt của nắng gió thời gian chứ không thể làm gì để bảo vệ di sản của dân tộc mình trước sự xâm lăng tàn bạo của chính con người.

“Ôi thời nguy nga
bỏ đi đâu
vui buồn rung chuông
tháp âm thầm sụp đổ
tôi bên tháp thấy mình đơn lẻ
thời khắc tan
còn lại những gì?”

Không phải thời nguy nga đã bỏ đi mà nó đã bị tước đoạt đã bị tàn phá. Đến cả một đất nước, một dân tôc, một triều đại còn bị tiêu diệt nói gì đến vẻ đẹp nguy nga của sản phẩm của chính đất nước đó .Phải không nhà thơ? Ai vui và ai buồn rung chuông? Kẻ chiến thắng rung chuông còn kẻ chiến bại thì không tồn tại mà rung lên tiếng chuông buồn để cáo chung sự điêu tàn sụp đổ của chính mình. Chỉ còn lại một mình nhà thơ trong cô đơn trơ trọi bên những gì đã và đang âm thầm sụp đổ. Rồi nhà thơ cứ thế tự vấn: “Thời khắc tan còn lại những gì” Sự khắc nghiệt đến tàn bạo của thời gian rồi sẽ xoá đi tất cả. Không chỉ con người mong manh và nhỏ bé mà cả những những tháp Chàm đã một thời nguy nga kiêu hãnh trước mắt ông cũng trở nên nhỏ bé.

“Vũ nữ oằn mình, muốn nói điều chi
thớ gạch cũ rần rật dòng máu đỏ
mình còn là mình, giữa tháng ngày nham nhở?
hơi thở cô đơn trong mạch vữa nhu mì”

Đến đây mạch thơ không đứt đoạn như những tiếng nấc xé lòng ở trên mà nó lại kéo dài ra như những nỗi buồn vô tận đang xâm chiếm tâm hồn nhà thơ. Những câu hỏi đau thương, những câu hỏi rớm máu cứ thế liên tiếp được nhà thơ như đang tự vấn chính mình. Những vũ nữ muốn nói điều chi ư? Nếu không phải là tiếng thét căm hờn vào sự dã man của chính con người đã tiêu diệt huỷ hoại dân tộc họ và huỷ hoại cả nền văn hoá của họ. Tiếng thét căm hờn đó đã làm cho những viên gạch trơ lì qua hơn nghìn năm đã rần rật nhỏ máu. Mình có còn là mình không ư giữa tháng ngày nham nhở và trong từng hơi thở của mạch vưã có độ bền vĩnh cửu sản phẩm bí hiểm của một dân tộc bí hiểm? Điều đó có lẽ không ai có thể trả lời cho cặn kẽ. Ta vẫn phải là ta vừa phận nỗ nhưng rồi phải vừa chịu đựng như tất cả những gì đang xẩy ra quanh ta. Ta xấu hổ vì ta bất lực .Thi ca ư chẳng thể làm gì trước mọi bất công tàn ác!

“Một thời vàng son
một đời vàng son
rời rã, phân ly
bàn tay buông bàn tay
ký ức cựa mình lá cỏ”

Tất cả đã và đang rời rã phân ly, đó là hiện thực. Tôi cứ trăn trở về những cái bàn tay hình như đã từng nắm lấy nhau sao giờ lại buông ra để ký ức chỉ còn là những lá cỏ đang cựa mình? Có điều gì đó thật thẳm sâu trong cuộc tự vấn này của nhà thơ. Phải chăng ông muốn nói về cái mong manh của kiếp người. Những vàng son của một thời, của một đời đã phân ly rời rã huống gì con người.
Lịch sử dân tộc Việt là lịch sử dựng nước và giữ nước. Nhưng đúng thật đã có những cuộc tàn phá kinh hoàng. Nhiều tháp Chàm chỉ còn là phế tích. Chiến tranh chưa bao giờ cũng chẳng khi nào mang lại điều gì tốt đẹp cho con người.
Quy luật của tạo hoá phải chăng cũng xoay quanh “sinh-trụ-dị-diệt” để rồi cát bụi lại trở về với cát bụi. Mãi muôn đời là sự tiếc nuối, dằn vặt, hối hận ?
Bài thơ đã khắc họạ một giai đoạn đau thương tàn phai của một dân tộc và phản ảnh quy luật vô thường của cuộc đời: không có gì là vĩnh cửu, chỉ cái đẹp là vẫn ám ảnh thức tỉnh tâm hồn./.

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương.
Năm sinh 1940.
Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An.
Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *