logo

VƯƠNG HOÀI UYÊN-THƠ VỀ MIỀN DĨ VÃNG

Kình thưa các bạn đây là bài viết mà tôi tâm đắc vì là thơ của một tác giả nữ sống và viết qua hai chế độ. Tôi nghiệm ra một điều dù sống ở chế độ xã hội nào Những nhà thơ đích thực bao giờ cũng viết vì con người, viết cho con người bằng tất cả tấm lòng nhân hậu nhất.
Xin trân trọng giới thiệu bài viết mà tôi yêu thích trong quá trình sáng tác của tôi

VƯƠNG HOÀI UYÊN – THƠ VỀ MIỀN DĨ VÃNG

NGUYỄN XUÂN DƯƠNG

Khi đọc bài viết của tôi về tập thơ “Nối Đêm” của nhà thơ Nguyễn Thị Phước đăng trên Việt Văn Mới, có đoạn cảm nhận về bài thơ “Câu hát cũ trên đồng”, một người bạn là thầy giáo già đã gọi cho tôi: “Chỉ cần 1 đoạn văn ấy thôi, anh đã thức dậy trong tôi cả một thời dĩ vãng”. Tôi tin đó là những lời nói chân thành.
Với tôi đọc thơ của Vương Hoài Uyên trên Việt Văn Mới nó cũng mang lại cho tôi những cảm xúc như thế. Thơ chị đã thức dậy trong tôi cả một thời dĩ vãng, đã dẫn dắt tôi trở về với làng Nguyên Cát, xã Võ Liệt huyện Thanh Chương xa xôi và nghèo khó. Những năm tháng ấu thơ, những năm tháng của tuổi học trò mộng mơ, mối tình đầu dang dở với cô gái dòng họ Tôn Thất và còn dẫn dắt tôi trở lại trên những chặng đường đời đầy gió bụi với rất nhiều buồn thương tiếc nuối. Với hình bóng.

“Mẹ già
Quang gánh lênh đênh
Mớ rau trĩu nặng
Buồn tênh phận người”.

Cứ ám ảnh tôi và chắc chắn sẽ ám ảnh tôi cho hết quãng đường đời còn lại, vì đó chính là bóng dáng người mẹ tảo tần của tôi. Tôi không biết nói gì chỉ mong rằng qua Việt Văn Mới tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến nhà thơ Vương Hoài Uyên. Thơ chị đã bồi đắp thêm cho tôi tình yêu cuộc sống, nó sẻ chia cùng tôi làm cho trái tim già nua cằn cỗi dịu mềm, tươi nhuận lại. Một trái tim đã ở vào cái tuổi như thơ chị đã viết:

“Em bây giờ chỉ còn thời để chết
Thời để yêu đã xa quá lâu rồi”

Đây không thể coi là một câu thơ bi lụy yếm thế mà phải nói rằng ở góc độ nào đó Vương Hoài Uyên đã dám nhìn thẳng vào sự thật, đã dám phơi trải, vì rằng quy luật của đời người là vậy. Sinh bệnh lão tử. Ai rồi cũng tiến gần với cái chết, cõi đời này chỉ là cõi tạm như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã hát thế gian này chỉ là căn nhà trọ cho mọi sinh linh. Ta sinh ra từ cát bụi lại trở về với cát bụi. Nhưng theo tôi có thể coi câu thơ đó là một lời thề nguyền tuẫn tiết của người góa phụ gửi đến vong linh của người chồng giờ đang lãng du đâu đó trên cõi vĩnh hằng, bỏ lại mình chị bơ vơ côi cút trên cõi đời còn lắm bão giông, còn nhiều gió bụi, một cõi đời mà:

“Đi suốt đời
Giông bão vẫn theo chân”.

Nhưng thời yêu mà chị nói ở đây là tình yêu lứa đôi, chị vẫn còn yêu thương cuộc đời này, yêu thương lắm lắm. Chị thương người mẹ già lam lũ nhọc nhằn ở cái chợ quê nghèo khó. Chị thương người bạn gái cùng thời vì bi phẫn mà phải nương thân vào cõi phật. Chị thương những câu Kiều đẫm đầy nước mắt. Chị thương con sông Trà Khúc của quê hương chị, giờ.

“Chỉ còn ao nước nhỏ
Dưới chân cầu lặng yên
Lơ thơ vài khóm cỏ
Âm thầm mơ thảo nguyên”.

Chị nhớ quay quắt bòng hình của anh, nhớ chùm phượng đỏ tươi anh trao cho chị từ thuở học trò. Chùm phượng ấy đã qua lâu lắm rồi chắc đã hơn nửa trăm năm mà giờ đây nếu như được đặt tay lên đó thì cả tuổi ấu thơ sẽ ùa ập tràn về. Chị nhớ những trái me chua, gói muối ớt cay xé bờ môi dấu dưới hộc bàn. Những trái me đã bao năm rồi giờ nó chỉ còn chua nỗi nhớ. Chị nhớ lắm một chỗ ngồi cùng anh trong quán cà phê giờ chỉ mình chị ngồi nhâm nhi giọt đắng cho nỗi nhớ thương quay quắt da diết cõi lòng. Chị thương những lá thu bay xao xác trên sân trường cũ. Chị yêu những đứa học trò thơ ngây trong ngày chị giã biệt mái trường để trở về với đời thường vẫn cháy bỏng ước mơ hoài bão về những điều chị dạy sẽ có ích cho các em, là hành trang sẽ cùng song hành với các em trên mọi nẻo đường đời. Chị vẫn yêu thương, yêu thương cuộc đời này lắm lắm, thương quãng đời dĩ vàng nhiều buồn thương giông gió, nhiều dâu bể đa đoan. Chị không có cái gan, cái bạo liệt của nhà thơ Chế Lan Viên khi ông viết:

“Dĩ vãng buồn thương mang lá cờ đen
Đến làm giặc giữa lòng ta, ta bắn chết”.

Câu thơ một thời được coi là bất hủ vì nó là khát vọng hóa thân, khát vọng lột xác của những nhà thơ mới đi theo cách mạng. Còn Vương Hoài Uyên vẫn sống chung cùng dĩ vãng, nếu không phải là người ăn mày dĩ vãng.
Thơ Vương Hoài Uyên không cách tân ồn ào, chị vẫn trung thành với thể loại thơ truyền thống mượt mà, óng chuốt, nhiều âm ba nhịp điệu, nhất là thơ lục bát của chị rất nhuần nhuyễn. Thơ của chị chỉ viết về những điều giản dị của cuộc đời, của riêng mình. Nhưng với tài năng sử dụng tổ chức ngôn ngữ một cách tinh tế, với lối ngắt câu,ngắt dòng, ngắt nhịp tài hoa nên thơ chị rất giàu hình ảnh và cũng rất giàu âm thanh nhịp điệu. Thơ Vương Hoài Uyên có sức nặng tâm trạng, sức nặng ám ảnh. Nó lan tỏa và lắng sâu được vào cõi người. Vẫn còn một lý do nữa thơ chị không viết cho riêng mình mà viết cho mọi người. Đọc thơ chị ta đều thấy cần phải sẻ chia với chị và cũng được chị sẻ chia. Ta đều rọi soi được vào thơ chị để thấy được cả một thời dĩ vãng của chình mình trong đó. Những điều chị yêu thương trăn trở cũng chính là sự yêu thương trăn trở của người đọc.
Để viết được đôi điều gì đó về thơ Vương Hoài Uyên tôi cứ phải lãng du trên cánh đồng thơ mênh mông sâu thẳm của chị. Bài thơ nào của chị cũng để lại trong tôi nhiều suy ngẫm nhiều rung cảm. Thơ thì dài rộng mà năng lực cảm thụ của tôi chỉ là hữu hạn, vậy nên rất mong được tác giả và quý bạn đọc rộng lòng lượng thứ nếu tôi chưa thể khám phá hết điều hay và vẻ đẹp của thơ Vương Hoài Uyên.

“Chim nhớ vườn xưa”

Kỉ niệm xưa cứ cồn cào nỗi nhớ và thường làm cho người ta cảm thấy cô đơn khi vô tình hay cố ý bắt gặp lại những gì đã thuộc về kỉ niệm. Cứ mỗi lần đi qua quán cà phê buổi ấy nơi mà hai người yêu nhau đã từng ngồi bên nhau để nhâm nhi giọt cà phê thơm đắng bờ môi. Không chỉ một lần mà đã:

“Bao nhiêu năm rồi
Mỗi lần em qua đấy
Chợt nghe hồn xao xác chút heo may”

Tưởng rằng bắt gặp lại kỉ niệm thì sẽ vui lên nhưng chỉ có heo may xao xác trong tâm hồn. Chút heo may mà xao xác cả lòng người thì phải nói chút heo may ấy lạnh lắm và lòng người ở đây cũng cô đơn lắm lắm. Cứ thế Vương Hoài Uyên tự thoại hoặc đối thoại đơn phương. Tiếc nuối và hoài niệm vì cứ mùa sang mùa, thời gian cứ trôi không dừng lại và không thể quay trở lại. Tất cả cứ lùi sâu vào một miền đâu đó xa lắc xa lơ. Đời người ta là vậy, khi ta có nhau, khi ta đủ đầy ta lại hững hờ ta không nhận biết được giá trị đích thực của nó và chỉ khi:

“Mùa qua mùa
Từng chiếc lá vàng bay
Vẫn biết là không thể
Nhưng cứ muốn thời gian quay trở lại
Ta đã đi một một đoạn đường xa ngái
Khi lạc mất nhau rồi
Mới biết kiếm tìm nhau”

Khi đọc thơ Vương Hoài Uyên tôi thường bắt gặt những bài thơ, khổ thơ, câu thơ mà tôi coi đó là sự vụt hiện, sự lóe sáng của thiên tài. Những bài thơ được viết ra từ trong cõi vô thức. Xin đừng cho tôi là ngoa ngữ. Xin đừng nghĩ tôi coi Vương Hoài Uyên là một thiên tài. Nhưng thơ là sản phẩm của con tim, là sự rung cảm tinh tế. Thơ không phải là một thứ công cụ mà người ta gọi là “Làm thơ”. Những câu thơ dưới đây cứ nằm mãi trong tôi và nó trở thành hành trang cùng tôi đi hết đoạn đường đời còn lại trên cõi nhân gian.:

“Vườn xưa còn giữ mãi chút hương cau
Dẫu giông bão
Qua bốn mùa xao xác
Có con chim chợt nhớ vườn quay quắt
Mỏi cánh quay về
Đứng lặng
Giữa chiều phai”

Đó là con chim nhỏ trong đời hay là sự hóa thân của Vương Hoài Uyên. Khổ thơ đã làm lòng tôi mềm lại và mắt tôi rân rấn nước. Những câu thơ cứ dẫn dắt tôi về với mảnh vườn xưa nơi đó có những hàng cau mà cứ mỗi độ mùa về hương cau lại tỏa thơm ngát trong đêm và đàn chim cứ ríu rít chuyền cành. Rồi một nỗi buồn man mác đầy vơi, một nỗi niềm tiếc nuối đến vô hạn vì tất cả đã xa xôi, xa mãi chỉ còn đọng lại trong tâm thức trong trái tim. Dù sao nó cũng cho tôi những giây phút dịu êm. Những câu thơ như thế không mang đến cho tôi nụ cười mà mang đến cho tôi những giọt lệ sẻ chia đồng vọng.

“Chậm mất mùa xuân”

Cái mong manh, cái chậm chạp của số phận người trước sự khắc nghiệt của thời gian. Đối với sự vô cùng vô tận của thời gian thì thời gian của một đời người chỉ là khoảnh khắc. Biết vậy mà không hiểu sao ta cứ chậm chạp để tất cả cứ qua nhanh chỉ còn nỗi buồn là đọng lại. Trước sự khắc nghiệt ấy Vương Hoài Uyên đã đặt ra câu hỏi.

“Anh có thấy nỗi buồn ngưng đọng lại
Khi tháng ngày lần lượt dắt nhau đi”

Và rồi chị lại tự dằn vặt mình:

“Thời gian thì quá nhanh
Mà em thì quá chậm
Nên suốt đời lận đận
Những hơn thua được mất trong đời”.

Trong cái khoảnh khắc hữu hạn ấy mà rồi cuộc đời có viên mãn tròn đầy, lúc được lúc mất, lúc đầy lúc cạn và biết bao giông gió, bể dâu lại ùa về. Đừng tự dằn vặt mình như thế, chuyện được mất của một đời người đều do tạo hóa bày đặt. Hình như chị cũng đã nhận ra điều ấy để rồi lại tự thoại:

“Tháng năm nào
Cũng là tháng năm trôi
Sao không thấy tháng năm nào đứng lại”

Rồi Vương Hoài Uyên lại mong mỏi dù chỉ một lần thôi cũng được:

“Em muốn đến nơi thời gian ngưng đọng mãi
Để thấy một lần không chậm mất mùa xuân”

“Mùa trăng cũ”

Đọc mùa trăng cũ tôi bỗng nhớ đến ca từ:

“Sao anh lại ngỏ lời vào một đêm trăng khuyết”

Trong bài hát được phổ nhạc từ bài thơ “Trăng khuyết”. Với Vương Hoài Uyên cũng vậy, cũng chỉ có một vầng trăng khuyết thôi khi họ thề bồi cùng nhau:

“Vẫn còn sáng mãi nửa vầng trăng”

Nhưng cuộc đời dâu bể đã đẩy họ mỗi người đi mỗi ngả để rồi cuộc tình đó dở dang. Tạo hóa là vậy một tháng 30 đêm chỉ có một đêm được gọi là trăng tròn. Nhưng thực ra đó chỉ là theo cảm nhận, còn với tốc độ vũ trụ thời gian để vầng trăng được gọi là tròn, viên mãn chỉ là khoảnh khắc. Trước khoảnh khắc đó là vơi, sau khoảnh khắc đó là khuyết. Vương Hoài Uyên đã hóa thân vào vầng trăng chính vì thế sự hao khuyết của cuộc đời là không tránh khỏi. Nhưng đối với một người đã được một lần yêu đầu say đắm, dù cho.

“Cơn lốc đời cuốn em về cuối bãi đồng sông”.

Thì vẫn.

“Đi đâu cũng thấy vầng trăng thời mới lớn
Trăng vẫn đến muộn màng treo nửa mảnh
Vẫn trong ngần như trăng thuở ấy – Bên anh”

Theo tôi điều đó chỉ tồn tại trong tâm thức của Vương Hoài Uyên mà thôi, thực tế thì anh đã xa, xa lắm rồi nên chị lại cất lên một câu hỏi đắng lòng.

“Và bao giờ anh về lại cánh đồng xanh
Nghe gió vọng khúc ru hời trên cỏ”

Chỉ là khúc ru hời của gió, khúc ru hời của cỏ.
Rồi cứ thế mà âm thầm tiếc nuối vì chỉ mình

“Em trở về cùng năm tháng đã đi qua”
Để rồi

“Chợt hốt hoảng khi trăng đời đã xế

Vâng đời người là vậy chỉ là khoảnh khắc thôi ta đã mãn chiều xế bóng. Rồi Vương Hoài Uyên lại nghĩ về dâu bể. Trong thơ chị đã bao lần viết về sự bể dâu dời đổi. Nhưng ta không thấy đây là sự trùng lặp mà nó như là một điệp ngữ để khẳng định con đường đời bể dâu của chị.

“Hồn đắng ngẹn trước những điều dâu bể.
Ngẩn ngơ tìm một nửa mảnh trăng xưa”

Đọc câu thơ ta thấy như có một người thiếu phụ trước mắt ta đang đi giữa cánh đồng hoang vu quạnh quẽ nghe gió vọng ru hời, cứ thế kiếm tìm, kiếm tìm mãi nửa mảnh trăng cũ năm nao. Những mảnh trăng của mùa cũ đã mất đi. Đọc bài thơ ta thấy mình được sẻ chia và muốn sẻ chia với Vương Hoài Uyên.

“Quên”

Bài thơ có tứ thơ lạ. Quy luật tuần hoàn của vũ trụ là bất biến. Một năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông cứ thế vần xoay đến vô tận. Nhưng với Vương Hoài Uyên thì lại không thế. Chị đưa ra một lời lý giải của riêng mình, dù lời lý giải đó thật phi lí. Nhưng chính thơ bao giờ cũng tiềm ẩn yếu tố phi lí. Những yếu tố phi lí làm cho thơ có sức nặng tâm trạng, sức nặng ám ảnh. Chị lý giải rằng tất cả những đổi thay được mất trong đời đều do sự quên lãng mà ra. Tôi xin trích toàn bộ bài thơ để ta cùng cảm nhận về những lý giải phi lý của Vương Hoài Uyên.

“Vì bỏ quên chiếc lá
Nên mùa thu quay về
Vì quên một giọt nắng
Mặt trời dừng chân đê
Vì quên chùm phượng đỏ
Nền mùa hè lặng im
Vì quên một ngọn gió
Nên mùa đông đi tìm.
Vì quên chồi lộc biếc
Nên mùa xuân ngẩn ngơ
Người quên tình tha thiết
Ta tìm hoài trong thơ.
Người bỏ quên tất cả
Ta lặng lẽ đi tìm
Mùa xuân rồi mùa hạ
Một nỗi niềm trong tim”

“Chợ quê”

Đọc “Chợ quê” tôi nhớ quay quắt chợ Rộ ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương quê hương tôi. Cái chợ Rộ nghèo khó ấy đã đi vào câu ca dao.

“Quê tôi ngọt mía Nam Đàn
Ngon khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài”

Quê người thì ngọt mía, thơm cam còn chợ Rộ quê tôi chỉ có củ khoai. Nghèo khổ quá nên củ khoai cũng đã quý lắm rồi. Khoai tươi chính vụ luộc ăn kèm với nhút Thanh Chương, quả cà muối mặn chát, chiêu với bát nước chè xanh là xong một bữa. Khoai thái mỏng phơi khô cho vào chum, vào bồ ăn trong mùa giáp hạt.

“Dừng chân
Giữa chợ quê buồn
Chiều đông xao xác
Gió luồn mái tranh
Mẹ già
Quang gánh lênh đênh
Mớ rau trĩu nặng
Buồn tênh phận người”

Khổ thơ đó thật sự ám ảnh tôi. Hình bóng người mẹ tảo tần lam lũ của tôi cứ đồng hiện lên cùng câu thơ của Vương Hoài Uyên. Chỉ một thoáng dừng chân mà chị đã có những câu thơ đặc tả quá tài hoa, quá sâu nặng tình người. Tôi tin tất cả những ai được đọc bài thơ đó đều cảm nhận được bóng dáng người mẹ của mình đã hoàn toàn hóa thân vào thơ Vương Hoài Uyên. Có thể đây không phải là người mẹ của Vương Hoài Uyên mà chỉ là người mẹ chị bắt gặp tình cờ. Nhưng tôi tin một cách chắc chắn rằng chính bóng dáng người mẹ của chị là hiện thân của câu thơ đó.
Nhưng không chỉ có thế, chợ quê nghèo khó ấy là hiện thân của nhân gian. Người thôn nữ ở đây tiếng cười hiu hắt. Tiếng cười mà hiu hắt thì xót đau lắm lắm. Rồi người thôn nữ ấy đưa đôi mắt đượm buồn nhìn về phương trời xa như muốn tìm thấy ở đó một cứu cánh giải thoát cho cuộc đời mình. Nhưng chỉ thấy.

“Người về
Xao xác bên sông
Lá đa rụng xuống
Vàng sân chợ chiều’’

Bài thơ thật buồn, buồn lắm nhưng nó không làm ta bi lụy, nó chỉ mang đến cho ta sự sẻ chia để rồi ta phải sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn với cuộc đời, để không còn người mẹ lênh đênh phận người, để không còn những người thôn nữ với tiếng cười hiu hắt. Bài thơ theo tôi nó chứa đựng được tấm lòng nhân ái lớn lao của nhà thơ đối với cuộc đời này.
“Dừng chân
Giữa chợ đìu hiu
Vời trông
Dường cũng tiêu điều nhân gian”

“Chia tay học trò”

Đây là bài thơ dãi bày tâm tư, dãi bày khát vọng về một nghề cao quý nhà giáo. Đọc bài thơ ta thấy được sự giao thoa hòa quyện vào nhau của một nhà giáo giàu tính nhân văn và một nhà thơ giàu lòng nhân ái trong con người Vương Hoài Uyên. Mặc dù với tên bài thơ là “Chia tay học trò” nhưng đây là nỗi niềm của một nhà giáo dù muốn hay không cũng phải từ giã những đứa học trò thân yêu mà gần suốt cuộc đời Vương Hoài Uyên đã đem tất cả yêu thương và tri thức để dạy dỗ chúng làm người. Một cô giáo dạy văn, giảng Kiều, những câu Kiều đọng đầy nước mắt, thấm đẫm tâm hồn cô giáo, rồi từ cô giáo thấm đẫm sang các học trò đã có lúc Vương Hoài Uyên coi đó là những khách đi đò qua con sông đời mà chị là một người lái đò cần mẫn. Đọc Kiều, giảng Kiều Vương Hoài Uyên đã hóa thân vào nàng Kiều và đã.

“Hơn một lần khóc thương Kiều chìm nổi lênh đênh”

Để

“Thời con gái hơn một lần mơ Từ Hải”

Nếu có hơn một lần mơ Từ Hải thì hãy yêu Từ Hải bằng tất cả con tim cùng chịu chung cảnh ngộ, đừng lấy Từ Hải làm cứu cánh giải thoát cho đời mình để rồi hơn một lần Từ Hải phải chết đứng giữa trận tiền vì kẻ gian manh Hồ Tôn Hiến.
Bài thơ nhiều tiếc nuối, bâng khuâng. Những câu thơ cứ gieo vào lòng ta một nỗi buồn chia xa man mác. Cảnh cô giáo ra về có chút gì đó cô đơn:

“Mai mốt cô về em có buồn không
Lấp lánh sợi mưa giữa chiều nắng nhạt”.

Nếu cô về mà em không buồn thì hóa ra trước hết cô là người vô cảm. Nhưng với một cô giáo yêu Kiều của Nguyễn Du, đã thương Kiều đã mơ Từ Hải đã cảm thông với Kim Trọng như thế này:

“Nguyễn Du viết Kiều thao thức trăm năm
Gửi lại mai sau nỗi sầu vạn kỉ
Kim Trọng trở về ngẩn ngơ vườn Thúy
Còn lại hoa đào cười với gió đông”

Thì chắc chắc các em buồn và buồn lắm, câu thơ này đã minh chứng.

“Lấp lánh sợi mưa giữa chiều nắng nhạt”

Nắng nhạt thì không thể có mưa, những sợi mưa ấy chính là những dòng nước mắt chan hòa chảy dài trên má của cô giáo và của các em học trò. Vương Hoài Uyên đã trở về với đời thường đó là luật lao động, đã là luật thỉ bất khả kháng. Cô vẫn muốn ở lại để truyền dạy cho các em kiến thức, truyền dạy cho các em tình yêu nàng Kiều của Nguyễn Du và tình yêu cuộc đời. Vương Hoài Uyên vẫn khát vọng đến vô bờ.

“Mai mốt cô về gửi lại chút bâng khuâng
Trang giáo án khép một thời quá khứ
Bài giảng xưa bây giờ em có giữ
Một chút cho đời – và một chút cho em”

Hãy yên lòng, những gì mà cô đã giảng sẽ thấm mãi, thấm sâu vào tâm thức, tình cảm của những đứa học trò. Ta có quyền tin rất nhiều những em học trò mà Vương Hoài Uyên đã chở qua sông sẽ trở thành những con người có ích cho cuộc đời, cho giang sơn đất nước. Các em sẽ trở thành những kĩ sư, những bác sĩ, tiến sĩ, những giáo sư đem kiến thức cô giáo dạy mà dâng hiến cho đời hãy vững lòng như thế để giờ đây chị được sống phút riêng tư cho đời mình và để làm thơ, những vần thơ nồng ấm tình người, đem yêu thương và lòng nhân ái gieo vào cõi người.
Vẫn còn rất nhiều những bài thơ mà tôi muốn cảm nhận để sẻ chia và qua đó rút ra những điều suy ngẫm. Vẫn rất muốn trở lại Sài Gòn, thời nữ sinh áo trắng. Vẫn muốn chia sẻ với người chị gái của nhà thơ mà cuộc đời của chị lại được gắn với loài hoa bằng lăng. Thứ hoa màu tím ngát tượng trưng cho lòng thủy chung đợi chờ. Người chị đã đợi chờ suốt cả một đời người, chờ cho đến bạc tóc phôi phai. Vẫn muốn được vào chùa để viếng sư cô giờ đây đang trong cảnh:

“Lá rừng rơi mái ngói
Chuông hoàng hôn âm ba
Sư nữ thiền không nói
Chiều rơi vàng cà sa”.

Được lên viếng ngôi chùa quạnh hiu trên núi để chiêm nghiễm.

“Sư thầy
Thiền định mãi sau
Áo nâu như tượng
Lẫn màu hoàng hôn”

Và để nghe

“Đâu đây
Thoảng tiếng kinh buồn
Mõ chuông
Chen tiếng gió luồn mái hiên”

Vẫn còn muốn đến Hàng Châu, Tô Châu để nhặt một lá phong đỏ mà cảm nhận mùa thu cùng chị, một mùa thu rất xa, xa lắm rồi đã mấy trăm năm. Nơi nàng Kiều phải sống đọa đầy lưu lạc và nơi Kim Trọng trở về ngẩn ngơ nơi vườn Thúy chỉ “Còn lại hoa đào cười với gió đông” câu thơ thật tài hoa nó được hóa thân từ câu thơ của Thôi Hiệu “Đào hoa y cữu tiếu đông phong”. Để lắng đọng tâm hồn vào cảnh thu phương Bắc. Cảnh thu của một đất nước nhiều đau thương dâu bể. Đã sản sinh ra nàng Kiều, Kim Trọng lại còn sản sinh ra thằng bán tơ, sản sinh ra Tú Bà sở khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh, sản sinh ra Hồ Tôn Hiến gian manh để có một Từ Hải anh hùng phải chết đứng, sản sinh ra một lũ Khuyển, Ưng để le lói những tấm lòng nhân ái của quản gia, của vãi Giác Duyên và còn để cảm nhận về một:

“Lá phong đỏ cháy một thời ly biệt”

Cùng nhà thơ tiếc nuối

“Trái tim nhỏ
Gói không tròn thương tiếc
Những mùa thu nào đã xa xôi”

Để đi qua vườn cũ mà cảm nhận

“Một chút gì hoang vắng
Ở trong tôi
Qua vườn cũ
Nghe chiều xao xác gió”

Trở lại với nắng trong vườn để

“Những trưa hè trốn ngủ
Mùa thơ ấu
Rong ruổi trong vườn
Vọng tiếng ve”

Để được đọc những câu thơ thật đẹp thật buồn

“Ngày ấy
Bâng khuâng
Xác phượng hồng
Con chim mùa cũ
Có về không
Vườn xưa
Xao xác
Nghìn hoa nắng
Vọng tiếng ai hò
Trên bến sông”

Vâng vẫn còn muốn lãng du trên cánh đồng thơ của Vương Hoài Uyên nhưng đã đến lúc phải khép lại rồi vì thực sự tôi đã mỏi gối chồn chân. Cuối cùng tôi muốn nói đến bài thơ

“Qua sông trà Khúc mùa hạ”

Đây là bài thơ để lại trong tôi nhiều rung cảm, nhiều suy tư trăn trở. Tôi coi đây là bài thơ lớn của Vương Hoài Uyên nó chứa đựng trong đó nỗi niềm nhân thế của một nhà thơ giàu tâm huyết trước những đổi dời dâu bể ngoài ý muốn của cuộc đời. Nó gợi cho tôi nhớ đến bài thơ “Trên đồi Vọng Cảnh” của nhà thơ Trương Đăng Dung. Ngồi bên cạnh người yêu trên Đồi Vọng Cảnh ngắm dòng sông Hương lững lờ trôi mà nhà thơ đã thảng thốt vì cảm nhận được điều gì đó bất an.

“Anh sợ đến một ngày dòng sông ngừng trôi
Đất khô cứng những giọt buồn hóa đá
Anh đến một ngày hồn anh từ cõi lạ
Trở về đây không còn có dòng sông”

Không phải chờ đến một ngày kia, không phải chờ đến mai sau mà tất cả đã trở thành hiện thực qua bài thơ của nhà thơ Vương Hoài Uyên. Dòng sông Trà Khúc êm đềm thơ mộng của ngày xưa giờ chỉ còn là như thế này đây:

“Chỉ còn ao nước nhỏ
Dưới chân cầu lặng yên
Lơ thơ vài khóm cỏ
Âm thầm mơ thảo nguyên”

Có thật vậy sao? có thật những khóm cỏ ấy đang âm thầm mơ, một giấc mơ rộng dài hay đó chỉ là giấc mơ hão huyền. Chỉ hão huyền thôi vì thế nên khóm cỏ mới âm thầm. Những khóm cỏ ấy linh cảm được rằng rồi sẽ có một ngày người ta vô tình xả lũ tùm lum, nước tràn về ngập cả đôi bờ lúa ngô cuốn phăng đi tất cả huống chi mấy khóm cỏ phù du vừa ngoi lên giữa dòng sông cạn. Rồi Vương Hoài Uyên chỉ biết:

“Soi mình trong vũng nước
Hỏi hồn sông nơi đâu
Mơ hồ nghe cá quẫy
Đau lòng chuyện bể dâu”

Mấy câu thơ đã nói hết cả rồi, những lời bình phẩm đều trở lên thừa thãi. Những câu thơ đó cứ cứa nát tim ta đến rớm máu. Nhà thơ Vương Hoài Uyên ạ ! chẳng riêng gì dòng sông Trà Khúc của chị mà những con sông trên mọi miền đất nước giờ đây đang chịu chung số phận như vậy. Đến như dòng sông Hồng hùng vĩ nhường kia giờ cũng chỉ là lô xô cồn bãi, vật vờ sậy lau. Chỉ còn lại cái lạch nước nhỏ nhoi thảm hại như con sông nội đồng. Tất cả mọi dòng sông đều bị chặt khúc, băm nhỏ ra bởi các đập thủy điện. Tất cả những tang thương dâu bể của tạo hóa, của con người nằm trọn trong các định luật bảo toàn vật chất, bảo toàn năng lượng. Được dòng điện, ta phải mất dòng sông, mất dòng sông thì dòng Đô La ào ạt chảy vào hầu bao của các ông chủ đầu tư. Lẽ đời dâu bể mà giản đơn sòng phẳng vậy đó. Nhà thơ có khóc thế, có buồn đau thế chứ khóc nữa đến cạn dòng nước mắt và buồn đau cho đến hết cuộc đời thì nó vẫn vậy chẳng thể nào đổi thay.
Chắc chắn một điều những dòng sông ngàn đời đã “GẦM LÊN KHÚC ĐỘC HÀNH” chỉ tồn tại trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng mà thôi.

Thay lời kết:

Đang ngồi viết những dòng này về thơ Vương Hoài Uyên thì nhận được thông báo của Việt Văn Mới là sẽ từ chối đăng tải những bài viết có thể tóm gọn trong một câu: “Không có ích gì cho văn chương, không có ích gì cho cuộc đời” tôi hoàn toàn đồng thuận với quyết định đó của Ban biên tập Việt Văn Mới. Tôi luôn nghĩ dù sống ở chính thể xã hội nào các nhà văn, nhà thơ đích thức trước hết phải giàu lòng nhân ái. Tác phẩm của họ phải dựa trên nền tảng là lòng nhân ái mang tính nhân văn cao cả và viết về con người, viết cho con người. Những người đọc thơ và yêu thơ họ cũng là những con người giàu lòng nhân ái, họ rất cần thứ văn chương có thể gieo mầm nhân ái vào lòng họ. Dù cổ nhân đã dạy “Thơ có buồn mới hay” và Stalin có một câu bất hủ “Thơ đích thực phải đượm chút buồn nhân thế”. Vâng nỗi buồn trong thơ phải là nỗi buồn lớn – nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn để sẻ chia và được sẻ chia với đồng loại. Viết về cái xấu là để cho vẻ đẹp nẩy nở viết về cái ác là để cho điều thiện sinh sôi. Sứ mệnh cao cả của văn nghệ sĩ là truyền bá Chân Thiện Mỹ vào cõi người. Cách đây hơn 2500 năm Khổng Tử đã khẳng định vai trò của thơ: “Thơ làm hứng khởi tấm lòng, ham điều thiện ghét điều ác” điều đó đã khẳng định rằng dù ở thời nào, chính thể xã hội nào văn chương đóng góp một phần hết sức quan trọng vào sự sinh tồn của nhân loại.
Những suy nghĩ của tôi phần nào là để chia sẻ với tác giả Vương Hoài Uyên về tác phẩm của chị.

Bắc Ninh, những ngày tháng giêng Ất Mùi.

Nguyễn Xuân Dương

Quản trị viên

facebook-profile-picture

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *